<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nam Y Đạo Pháp</title>
	<atom:link href="http://namydaophap.net/?feed=rss2" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://namydaophap.net</link>
	<description>Xây dựng nền y học thuần Việt gọi là Nam Y</description>
	<lastBuildDate>Mon, 09 Aug 2010 01:37:56 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.0</generator>
		<item>
		<title>Hội chứng đau dạ dày (đau bao tử) và ung thư dạ dày</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=226</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=226#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 28 Jun 2010 20:09:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hội chứng đau dạ dày (đau bao tử) và ung thư dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[dịch trào ngược lên dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[K dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[loét dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[đau dạ dày]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=226</guid>
		<description><![CDATA[Đau dạ dày là triệu chứng lâm sàng gọi chung cho các hiện tượng:
-	Niêm mạc dạ dày xung huyết, phù nề, viêm trợt
-	Viêm loét hành tá tràng
-	Viêm loét bờ cong nhỏ
-	Viêm loét bờ cong lớn
-	K (ung thư) dạ dày 
-	và còn nhiều các triệu chứng khác liên quan đến đau dạ dày…
]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="20" width="100%" bgcolor="#eeeeee">
<tbody>
<tr>
<td style="text-align: justify;" width="100%" valign="top">Đau dạ dày là triệu chứng lâm sàng gọi chung cho các hiện tượng:<br />
-	Niêm mạc dạ dày xung huyết, phù nề, viêm trợt<br />
-	Viêm loét hành tá tràng<br />
-	Viêm loét bờ cong nhỏ<br />
-	Viêm loét bờ cong lớn<br />
-	K (ung thư) dạ dày<br />
-	và còn nhiều các triệu chứng khác liên quan đến đau dạ dày…</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<h2>1. Đông Y</h2>
<p>Khi khám những người có hiện tượng đau vùng cưu vĩ (góc nhọn giữa hai cung sườn gặp nhau trước ngực, phần chót có hình đuôi con chim cưu, nên gọi là cưu vĩ) đày hơi, bụng chướng, ăn khó tiêu, nôn khan, ợ chua, ỉa táo, da xanh, cơ thể suy nhược, ốm đứng, Đông Y cho rằng đó là do “can khí phạm vị”. Tuy vậy, việc ra đơn thuốc chữa bệnh thì nhiều trường hợp không có kết quả. Bệnh tiến triển từ nhẹ tới nặng, đến mức bị ung thư dạ dày.</p>
<h2>2. Tây Y</h2>
<p>Đã từ lâu, hội chứng đau dạ dày Tây Y không hiểu rõ nguyên nhân vì sao. Đến năm 2005, hai nhà khoa học Úc là Barry J. Marshall và J. Robin Warren được nhận giải thưởng Nobel về y học do phát hiện thủ phạm gây viêm loét và ung thư dạ dày là vi khuẩn <em>Helicobacter pylori</em> (HP), và đưa ra phương pháp xét nghiệm, dùng hỗn hợp kháng sinh để chữa trị.</p>
<p>Thật ra sau giải thưởng Nobel này, bệnh dạ dày và K dạ dày vẫn hầu như không được ngăn chặn. Hàng năm số người bị mắc bệnh này vẫn ngày một nhiều. Theo số liệu bản tin N°297 tháng 2/2009 về ung thư của Tổ chức Y tế Thế giới, số người bị chết vì ung thư dạ dày trên toàn thế giới năm 2004 là 803.000, đứng thứ hai sau ung thư phổi. Viện Ung thư Quốc gia Mỹ có số liệu tổng kết năm 2009 có 21.130 ca mới mắc bệnh ung thư dạ dày và trong số đó có đến 10.620 bệnh nhân đã chết do bệnh này.</p>
<p>Tuy nhiên trong thực tế, khá nhiều bệnh nhân bị viêm loét dạ dày, thủng dạ dày hoặc K dạ dày không tìm thấy sự liên quan đến khuẩn HP. HP là vi khuẩn đã chung sống với bộ máy tiêu hóa của con người từ rất lâu, chắc chắn đây không phải là nguyên nhân chính gây nên hội chứng dạ dày và K dạ dày.</p>
<h2>3. Quan niệm của Nam Y về hội chứng đau dạ dày</h2>
<p>Hệ tiêu hóa là tổng thể các bộ phận từ răng miệng, thực quản, dạ dày, hành tá tràng, tụy, gan, mật, ruột non, ruột già và cuối cùng là hậu môn.</p>
<p style="text-align: center;">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/benh-da-day/02-bo-may-tieu-hoa.jpg" title="Bộ máy tiêu hóa" class="shutterset_singlepic55" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=55&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bộ máy tiêu hóa" title="Bộ máy tiêu hóa" />
</a>
</p>
<h6 style="text-align: center;">Bộ máy tiêu hóa</h6>
<p>Khi quan sát quá trình tiêu hóa ở vùng gan, mật, tụy, dạ dày, và ruột non, ta thấy dịch mật (có màu xanh lục) được gan tiết ra đổ vào ống mật và được chứa ở túi mật. Dịch mật và dịch tụy lúc nào cũng sẵn sàng được bơm vào đoạn tá tràng nối dạ dày với ruột non. Khi thức ăn ở dạ dày được nhào trộn và tiêu hóa sơ bộ, chúng được đẩy xuống đoạn tá tràng nơi dịch mật và dịch tụy đồng thời tiết ra trộn đều với thức ăn để nhũ hóa mỡ (lipid) nhờ tính chất nhũ hóa của mật và chặt đứt các liên kết đạm (protein) nhờ các enzyme thủy phân đạm của tụy. Thức ăn được chuyển hóa thành các chất dinh dưỡng dễ dàng được hấp thụ qua niêm mạc ruột non để đổ vào tĩnh mạch cửa về gan rồi đi vào hệ tuần hoàn đến các mô và tế bào. Các chất xơ không được hấp thụ sẽ bị đẩy tiếp xuống ruột già. Ở đây nước còn lại sẽ được ruột già hấp thụ, còn các chất  cặn bã khác sẽ chuyển thành phân và đào thải ra ngoài qua hậu môn. Tới đây kết thúc quá trình tiêu hóa và đào thải cặn bã của bộ máy tiêu hóa rất phức tạp nhưng quy củ và có trật tự.</p>
<p style="text-align: center;">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/benh-da-day/03-gan-mat-tuy.jpg" title="Gan, Mật, Tụy" class="shutterset_singlepic56" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=56&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Gan, Mật, Tụy" title="Gan, Mật, Tụy" />
</a>
</p>
<h6 style="text-align: center;">Gan, Mật, Tụy</h6>
<p>Như ta đã biết quan niệm của Đông y về nguyên nhân gây đau dạ dày là do “can khí phạm vị”, tức là có sự liên đới từ gan mật đến dạ dày. Cụm danh từ y khoa cổ này được giải thích là khí của gan xâm phạm vào dạ dày. Theo Đông y, gan thuộc Mộc, can khí là khí của Mộc có màu xanh lục. Khi nội soi dạ dày những người có triệu chứng đau dạ dày, người ta thường thấy dịch mật màu xanh trào ngược vào dạ dày. Có lẽ đây chính là hiện tượng “can khí phạm vị” mà người xưa đã quan sát được, tuy nhiên nó chưa giúp giải thích được tại sao dịch mật có thể làm loét niêm mạc dạ dày.</p>
<p style="text-align: center;">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/benh-da-day/04-gan-mat-tuy-ta-trang.jpg" title="Gan, Mật, Tụy, Tá tràng" class="shutterset_singlepic57" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=57&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Gan, Mật, Tụy, Tá tràng" title="Gan, Mật, Tụy, Tá tràng" />
</a>
</p>
<h6 style="text-align: center;">Gan, Mật, Tụy, Tá tràng</h6>
<p>Theo quan điểm Nam Y, đối với bệnh nhân đau dạ dày khi làm nội soi, các bác sĩ chuyên khoa chỉ nhìn thấy bằng mắt thường và mô tả hiện tượng dịch trào ngược ở dạ dày thuần túy là dịch mật màu xanh kèm theo hiện tượng niêm mạc dạ dày bị xung huyết hay bị loét, thường là âm tính với khuẩn HP. Trên thực tế, kèm với dịch mật trào ngược lên dạ dày còn có dịch tụy không màu với các enzyme có tác dụng phân hủy đạm.</p>
<p>Đối với người có bộ máy tiêu hóa khỏe mạnh, dạ dày hoạt động bình thường sau khi nhào trộn và tiêu hóa thức ăn sơ bộ thì bơm đẩy thức ăn xuống ruột non theo những nhu động dạng sóng xuống phía ruột bên dưới. Khi thức ăn xuống đến đoạn hành tá tràng, dịch mật và dịch tụy đồng thời được phun ra hòa lẫn vào thức ăn để nhũ hóa mỡ và thủy phân đạm, và được đẩy xuống đoạn ruột non bên dưới.</p>
<p style="text-align: center;">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/benh-da-day/05-loet-da-day.jpg" title="Loét dạ dày" class="shutterset_singlepic58" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=58&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Loét dạ dày" title="Loét dạ dày" />
</a>
</p>
<h6 style="text-align: center;">Loét dạ dày</h6>
<p>Đối với người bị đau dạ dày, vì lý do nào đó mà nhu động ruột lại đẩy ngược lên trên làm dịch mật và dịch tụy trào ngược lên dạ dày, thường là khi dạ dày trống rỗng không có thức ăn. Dịch mật ban đầu làm tan nhớt bề mặt dạ dày, dịch tụy tiếp theo làm thủng các mô niêm mạc của dạ dày tạo thành các ổ loét, xung huyết và phù nề. Khi có các vết thương như vậy thì khuẩn HP nhân cơ hội ký sinh vào làm cho vết thương bị nặng dần lên. Vì vậy mà đạ dày bị viêm loét ngày càng trầm trọng, ban đầu là cấp tính, sau là mãn tính và lâu ngày nặng dần, theo quy luật sinh học chuyển thành K hóa gây ung thư dạ dày. Dịch tụy là thủ phạm gây ra xuất huyết dạ dày cấp và thủng dạ dày.</p>
<p style="text-align: center;">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/benh-da-day/01-gan-mat-tuy-da-day-ta-trang-thuc-quan.jpg" title="Ung thư dạ dày" class="shutterset_singlepic54" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=54&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Ung thư dạ dày" title="Ung thư dạ dày" />
</a>
</p>
<h6 style="text-align: center;">Ung thư dạ dày</h6>
<p>Vậy sự giải thích của Đông y cũng như Tây y, mỗi bên chỉ mô tả được một phần của bản chất bệnh viêm loét dạ dày dẫn tới K dạ dày. Đối với Nam Y, chỉ riêng hiện tượng dịch mật và dịch tụy trào ngược lên dạ dày diễn ra thường xuyên cũng đủ gây ra các bệnh loét dạ dày dẫn đến K dạ dày, chưa kể đến sự có mặt của vi khuẩn HP. Tình trạng trào ngược này còn có thể lên đến thực quản và gây ra các ổ loét hoặc K hóa ở thực quản.</p>
<h2>4. Nguyên nhân làm dịch mật và dịch tụy trào ngược lên dạ dày</h2>
<p>Đa số người có hội chứng đau vùng cưu vĩ có hiện tượng dịch trào ngược thường xuyên là do hoạt động tình dục nam nữ. Những người này thường là sau khi ăn no, uống rượu say, lao động nặng hoặc đi xa mới về người mỏi mệt… mà quan hệ tình dục ngay, hậu quả có thể xảy ra là cảm phòng, phạm phòng, ngộ phòng. Nếu ngộ phòng người nam giới có thể chết ngay khi đang hành sự, còn lại phạm phòng hay cảm phòng nhẹ cả nam và nữ có thể không biết, chỉ thấy ăn không tiêu, đầy hơi, da vàng, ốm đứng, người mỏi mệt và sau đó thấy đau vùng cưu vĩ.</p>
<p>Hiện tượng này thường kèm theo rối loạn tiêu hóa, lúc đầu phân táo, hai ba ngày mới đại tiện. Người bệnh bắt đầu đến khám chữa ở các bệnh viện, phòng khám, ông lang, bà mế, sử dụng đủ các loại thuốc Đông Tây y khác nhau để chữa triệu chứng, không thể khỏi dứt điểm được. Nếu lâu ngày mà bệnh chỉ đỡ không khỏi thì người ta lại có ý sống chung cùng bệnh dẫn đến bệnh chuyển thành mãn tính dai dẳng và cuối cùng thành ung thư dạ dày.</p>
<p>Như vậy ta có thể thấy nguyên căn của ung thư dạ dày khởi phát từ bệnh dạ dày thông thường bắt đầu từ rất sớm từ khi có hiện tượng đầy hơi, khó tiêu đến nóng bụng cồn cào do dịch trào ngược lên dạ dày, có khi cả thực quản. Hiểu như vậy là ta có thể phòng và chữa viêm loét, đau dạ dày cũng như K dạ dày.</p>
<h2>5. Polyp dạ dày</h2>
<p>Ung thư dạ dày, ngoài việc phát triển dần từ các vết loét dạ dày lặp đi lặp lại rồi K hóa còn có tình trạng ung thư dạ dày phát triển từ các polyp dạ dày.</p>
<p>Các polyp lúc đầu xuất hiện rồi phát triển theo hình búp măng đến hình nấm rồi vỡ ra chảy máu kèm theo có các tế bào lạ.</p>
<p>Polyp dạ dày có bản chất giống với các polyp cơ trơn khác như polyp đại tràng, polyp bàng quang, polyp tử cung…</p>
<p>Có nhiều lý do dẫn đến việc xuất hiện các polyp này ở dạ dày. Tây Y thường dùng phẫu thuật nội soi để cắt bỏ polyp ở dạ dày, tuy nhiên sau một chu kỳ thời gian thì polyp lại mọc trở lại. Nam Y có thể chữa được hoàn toàn dạng polyp này ở dạ dày bằng thuốc theo Kỳ Môn Y Pháp vận dụng quy luật loại dị vật của cơ thể. Đó chính là quy luật sinh học hữu hiệu nhất để loại bỏ tận gốc polyp dạ dày.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=226</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phòng bệnh viêm loét dạ dày</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=223</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=223#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 28 Jun 2010 20:00:05 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hội chứng đau dạ dày (đau bao tử) và ung thư dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[dịch trào ngược lên dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[K dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[loét dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[đau dạ dày]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=223</guid>
		<description><![CDATA[Nên ăn kèm theo các thực phẩm giàu chất xơ để tránh bị táo bón, giúp cho ruột thường xuyên hoạt động bình thường không gây nhu động ngược đẩy dịch mật và dịch tụy ngược lên dạ dày. Thời điểm nóng bụng thường xảy ra khoảng từ 1 đến 2 giờ đêm vì lúc [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Nên ăn kèm theo các thực phẩm giàu chất xơ để tránh bị táo bón, giúp cho ruột thường xuyên hoạt động bình thường không gây nhu động ngược đẩy dịch mật và dịch tụy ngược lên dạ dày.</p>
<p>Thời điểm nóng bụng thường xảy ra khoảng từ 1 đến 2 giờ đêm vì lúc đó dạ dày đã tiêu hóa và đẩy hết thức ăn xuống ruột, dạ dày lúc đó trống rỗng. Khi ruột nhu động đẩy thức ăn xuống đại tràng bị rối loạn, chứng nhu động đẩy ngược lên và đẩy dịch mật và dịch tụy ngược lên dạ dày gây ra hiện tượng nóng bụng, nóng cổ, cồn cào. Lúc này chỉ cần uống khoảng 100ml đến 200ml nước lọc để hòa loãng dịch trào ngược và tạo điều kiện để dạ dày đẩy dịch này xuống ruột non.</p>
<p>Tránh động phòng khi cơm no, rượu say, mỏi mệt, còn ốm yếu để tránh bị phạm phòng, cảm phòng. Nguyên nhân sinh hoạt tình dục dẫn đến bệnh dạ dày là chủ yếu xảy ra ở những người trưởng thành, tuy nhiên ngoài ra còn có những nguyên nhân khác liên quan đến bệnh dạ dày như thực phẩm, nước uống, ô nhiễm môi trường sinh sống. Đối với các cháu bé bị bệnh dạ dày là do nguyên nhân cảm lạnh phần bụng khi ăn no…</p>
<p>Cần lưu ý khi vui quá chén lặp đi lặp lại nhiều lần bị say xỉn nôn mửa, dạ dày thường xuyên bị bỏ trống sau khi nôn, dịch mật và dịch tụy ồ ạt trào vào dạ dày gây nên vết loét. Khi đã có loét, xung huyết dạ dày, viêm dạ dày vẫn tiếp tục rượu bia say xin dẫn đến K dạ dày rất sớm. Có người ở tuổi 32 đã bị ung thư dạ dày và lan sang các cơ quan khác như gan, tụy, không còn cơ hội phẫu thuật và cũng còn rất ít cơ hội chữa khỏi bằng Nam y.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=223</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chữa bệnh đau dạ dày</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=207</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=207#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 28 Jun 2010 19:56:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hội chứng đau dạ dày (đau bao tử) và ung thư dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[dịch trào ngược lên dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[K dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[loét dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư dạ dày]]></category>
		<category><![CDATA[đau dạ dày]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=207</guid>
		<description><![CDATA[Khi có hiện tượng đau vùng cưu vĩ, ợ hơi, chán ăn, khó tiêu, da vàng, mệt mỏi, nóng bụng, cồn cào ruột gan…, người bệnh có thể đến cơ sở Nam Y chúng tôi để được tư vấn và chẩn đoán hướng điều trị. Nếu được điều trị đúng ở giai đoạn này sẽ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Khi có hiện tượng đau vùng cưu vĩ, ợ hơi, chán ăn, khó tiêu, da vàng, mệt mỏi, nóng bụng, cồn cào ruột gan…, người bệnh có thể đến cơ sở Nam Y chúng tôi để được tư vấn và chẩn đoán hướng điều trị. Nếu được điều trị đúng ở giai đoạn này sẽ rất nhanh khỏi bệnh.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;">Các y pháp, y thuật được sử dụng để chữa bệnh như sau:</span></p>
<h2>1. Châm cứu</h2>
<p>Có thể châm cứu 8 điểm trên vùng bụng thứ tự như hình vẽ dưới đây để điều chỉnh lại nhu động ruột có tác dụng đẩy dịch ở dạ dày xuôi xuống ruột non. Ngoài ra có thể phối hợp châm thêm các huyệt Túc tam lý và Tam âm giao.</p>
<p style="text-align: center;">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/benh-da-day/cham-cuu-bat-huyet.jpg" title="Châm cứu 8 điểm vùng bụng" class="shutterset_singlepic52" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=52&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Châm cứu 8 điểm vùng bụng" title="Châm cứu 8 điểm vùng bụng" />
</a>
</p>
<p style="text-align: center;">Châm cứu 8 điểm ở bụng</p>
<p>Chỉ cần châm cách nhau một hoặc hai ngày một lần. Mỗi bệnh nhân có thể phải áp dụng lịch trình châm cứu khác nhau để nhanh chóng lấy lại các nhu động dạ dày và ruột thuận chiều, đúng với nhịp độ sinh học bình thường.</p>
<h2>2. Cắt thuốc theo đơn Kỳ Môn Y Pháp</h2>
<p>Người bệnh có thể dùng thuốc sắc cắt theo đơn Kỳ Môn Y Pháp trên nguyên tắc sau đây:</p>
<p>- Điều hòa chế độ đại tiện đều đặn mỗi ngày đi ngoài từ 1 đến 2 lần.</p>
<p>- Phục hồi lại các hoạt động bình thường của dạ dày nói riêng và hệ tiêu hóa nói chung, giúp hàn gắn vết thương do dịch tụy gây ra.</p>
<p>- Củng cố và giữ vững hệ nội tiết, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp và hệ bài tiết.</p>
<p>- Lấy các chỉ tiêu và triệu chứng lâm sàng về chế độ ăn uống, ngủ nghỉ, đại tiểu tiện của người bệnh để đánh giá tác dụng của thuốc.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;">Đơn mẫu Kỳ Môn Y Pháp:</span></p>

<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/benh-da-day/ky-mon-y-phap---da-day.jpg" title="Kỳ Môn Y Pháp chữa bệnh dạ dày" class="shutterset_singlepic53" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=53&amp;width=620&amp;height=450&amp;mode=" alt="Kỳ Môn Y Pháp chữa bệnh dạ dày" title="Kỳ Môn Y Pháp chữa bệnh dạ dày" />
</a>

<p>Mỗi một người bệnh đều có những đặc điểm tuổi tác, bệnh lý, sinh lý và cơ thể khác nhau nên việc áp dụng Kỳ Môn Y Pháp để ra đơn cắt thuốc được cá biệt hóa rất cao, không ai giống ai. Thuốc có thể được điều chỉnh phù hợp với từng cá nhân theo sự biến động của chế độ sinh hoạt hàng ngày, hàng tháng, theo mùa, chuyển biến của bệnh lý, sự thay đổi về sinh lý với mục đích đạt hiệu quả chữa bệnh cao nhất.</p>
<h2>3. Chữa ung thư dạ dày</h2>
<p>Khi dịch mật và dịch tụy trào ngược gây ra vết loét trên niêm mạc dạ dày. Vi khuẩn HP ký sinh khoét sâu vết thương vào các mô tế bào niêm mạc dạ dày làm cho bệnh càng trở nên trầm trọng. Khi bị viêm loét kéo dài, quá trình phá hủy và xây dựng thay thế tế bào (protein) cấu tạo nên niêm mạc và cơ thành dạ dày bị rối loạn, cơ thể dần mất kiểm soát quá trình sửa chữa này gây ra ung thư.</p>
<p>Vị trí bị ung thư hay gặp ở dạ dày là ở bờ cong nhỏ, tuy nhiên cũng có thể ở vị trí khác của dạ dày. Tổ chức ung thư có thể phát triển lan rộng dẫn đến làm hẹp tâm vị, môn vị gây ra hiện tượng ăn nôn, thành dạ dày xơ cứng co bóp không còn nhu nhuận, mềm dẻo. Lúc này chắc chắn bệnh nhân cần phải nhờ đến bàn tay vàng của các nhà phẫu thuật.</p>
<p>Nếu như sau khi phẫu thuật cắt bỏ 3/4, 4/5 dạ dày một cách an toàn, dạ dày của bệnh nhân có thể được hồi phục bằng uống thuốc theo Kỳ Môn Y Pháp cộng với Linh đan Thiềm Ô Châu để hỗ trợ loại bỏ tế bào lạ, chống lại hiện tượng ung thư di căn sang gan, tụy hoặc các cơ quan khác của cơ thể. Bệnh nhân có điều kiện kinh tế có thể sử dụng thêm Nhân sâm Ngọc Linh để tăng cường sức khỏe và nâng cao khả năng miễn dịch.</p>
<p style="padding-left: 30px;"><strong><em><span style="text-decoration: underline;">Ví dụ bệnh nhân điển hình:</span></em></strong></p>
<p style="padding-left: 30px;">Bà Khúc Thị Tiến, người Cẩm Quan, Cẩm Xá, Mỹ Hào, Hưng Yên, bị cắt 4/5 dạ dày vì ung thư, không điều trị hóa trị, từ năm 2000, đã uống thuốc theo Kỳ Môn Y Pháp đến nay sau 10 năm, bệnh nhân hoàn toàn khỏe mạnh, sinh hoạt và lao động bình thường.</p>
<p>Như vậy Nam Y có thể chữa khỏi hoàn toàn cho bệnh nhân ung thư dạ dày sau phẫu thuật. Trong những trường hợp tương tự, nếu không được phẫu thuật, bệnh nhân có thể chết do đói vì không ăn được.</p>
<p>Nếu ung thư dạ dày đã lan sang gan, tụy… không có khả năng chỉ định mổ, nếu chưa bị tắc tâm vị hay môn vị, nghĩa là thức ăn có thể đi qua ống tiêu hóa thì có thể uống thuốc để đẩy lùi cái chết và kéo dài sự sống.</p>
<p>Ở các bệnh nhân nặng không cắt được dạ dày mà phải can thiệp nối vị tràng thì chỉ có thể sống sót một thời gian tùy thuộc và thể trạng của bệnh nhân. Đối với các bệnh nhân này thì Nam Y không có điều kiện để chữa khỏi vì theo quy luật sinh học, các vùng ruột và dạ dày không hoạt động theo thời gian sẽ tự tiêu hủy.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=207</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhân sâm Ngọc Linh</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=150</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=150#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 May 2010 05:05:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thuốc Nam chữa bệnh]]></category>
		<category><![CDATA[Nhân sâm Ngọc Linh]]></category>
		<category><![CDATA[Panax articulatus KL Dao (1973)]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=150</guid>
		<description><![CDATA[Nhân sâm Ngọc Linh - Panax articulatus KL Dao (1973) ex Ha et Grushvistky (1985) Đề tài nghiên cứu phát hiện Nhân sâm tại núi Ngọc Linh là đề tài nhỏ trong công trình nghiên cứu điều tra cây thuốc Trường Sơn – đề tài cấp nhà nước do Ban đại diện Chính phủ lâm thời [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Nhân sâm Ngọc Linh - <em>Panax articulatus KL Dao (1973) ex Ha et Grushvistky</em><em> </em><em>(1985)</em></p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="20" width="100%" bgcolor="#eeeeee">
<tbody>
<tr>
<td style="text-align: justify;" width="100%" valign="top">Đề tài nghiên cứu phát   hiện Nhân sâm tại núi Ngọc Linh là đề tài nhỏ trong công trình nghiên cứu điều   tra cây thuốc Trường Sơn – đề tài cấp nhà nước do Ban đại diện Chính phủ lâm   thời Miền Nam Việt Nam chủ trì, Dược sĩ Đào Kim Long là chủ nhiệm đề tài.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Nhân sâm Ngọc Linh được đoàn điều tra dược liệu Khu V phát hiện lần đầu tiên tại núi Ngọc Linh ở độ cao 1.800 mét vào lúc 9:00 sáng ngày 19 tháng 3 năm 1973. Căn cứ vào các dữ liệu khoa học, nhà thực vật học kiêm dược sĩ Đào Kim Long đã đặt tên là <em>Panax Articulatus Kim Long Dao</em>. Ở thời điểm này, cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam còn đang rất gay go và ác liệt nên cây nhân sâm được giữ “bí mật thời chiến”. Tài liệu chính thức về cây nhân sâm Ngọc Linh đã được gửi ra Vụ I – Bộ Y Tế, tuy nhiên Vụ này đã giải thể sau khi thống nhất đất nước, tài liệu bị thất thoát, chỉ còn một bản tài liệu gốc được lưu giữ đến nay bởi Dược sĩ Trần Lai, lãnh đạo Ban Y Tế Miền Trung Trung Bộ trước đây.</p>
<p style="text-align: center;">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/nhan-sam-ngoc-linh/cu-cay-hoa-la-nhan-sam-Ngoc-Linh.jpg" title="Củ cây lá và chùm quả cây nhân sâm Ngọc Linh hoang dại" class="shutterset_singlepic51" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=51&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Củ cây lá và chùm quả cây nhân sâm Ngọc Linh hoang dại" title="Củ cây lá và chùm quả cây nhân sâm Ngọc Linh hoang dại" />
</a>
<br />
Ảnh: Củ cây lá và chùm quả cây nhân sâm Ngọc Linh hoang dại<br />
Trọng lượng 600gram, tuổi gần 60 năm</p>
<p>Vì lý do trên nên đến năm 1985, cây nhân sâm Ngọc Linh được đặt một tên mới <em>Panax vietnamensis Hà Thị Dung và I. V. Grushvistky</em>. Áp dụng Quy tắc quốc tế về danh pháp thực vật công bố năm 1994 (ICBN – Tokyo code), điều 1, mục 3 phần C, danh pháp khoa học của sâm Ngọc Linh được viết hợp pháp theo luật quốc tế hiện nay là <em>Panax articulatus KL Dao (1973) ex Ha et Grushvistky</em><em> (1985)</em>.</p>
<p>Từ năm 1973 đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cây nhân sâm Ngọc Linh. Người đầu tiên có bằng Tiến sĩ về cây nhân sâm Ngọc Linh là Nguyễn Thới Nhâm. Sau đó là hàng loạt các công trình tiến sĩ, thạc sĩ (khoảng 50 công trình) ở nhiều viện nghiên cứu hàn lâm khoa học khắp nơi trên thế giới đã chứng minh nhân sâm Ngọc Linh là vị thuốc đặc biệt quý, đứng trên cả Nhân sâm Triều Tiên, Nhân sâm Trung Quốc và Nhân sâm Mỹ.</p>
<p>Bảng 1: So sánh thu suất toàn phần hàm lượng Saponin (%)</p>
<table border="1" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top"><strong>Loại Aglycom</strong></td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top"><strong>Nhân sâm Triều   Tiên</strong></td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top"><strong>Nhân sâm Trung   Quốc</strong></td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top"><strong>Nhân sâm Tây Dương   – Mỹ</strong></td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top"><strong>Nhân sâm Ngọc   Linh</strong></td>
</tr>
<tr>
<td width="124" valign="top">20(S) PPD</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">2,9</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">2,1</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">2,7</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">3,1</td>
</tr>
<tr>
<td width="124" valign="top">20 (S) PPT</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">0,6</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">2,4</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">1,2</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">2,0</td>
</tr>
<tr>
<td width="124" valign="top">Ocotilol</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">0,00</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">0,00</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">0,004</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">5,6</td>
</tr>
<tr>
<td width="124" valign="top">Aleanolic axít</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">0,02</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">0,00</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">0,07</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">0,09</td>
</tr>
<tr>
<td width="124" valign="top">Thu suất toàn phần (%)</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">3,5</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">4,5</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">4,0</td>
<td style="text-align: center;" width="124" valign="top">10,8</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Qua bảng so sánh trên đây, ta thấy Nhân sâm Ngọc Linh có hàm lượng thu suất toàn phần cao hơn gấp ba lần nhân sâm Triều Tiên, hơn hai lần nhân sâm Trung Quốc và nhân sâm Mỹ.</p>
<p>Vì cơ cấu hóa học đặc biệt của nhân sâm Ngọc Linh nên tác dụng chữa bệnh rất đa dạng.</p>
<p>Bảng 2: Tác dụng dược lý của nhân sâm Ngọc Linh</p>
<table border="1" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td style="text-align: center;" valign="top"><strong>STT</strong></td>
<td style="text-align: center;" valign="top"><strong>Tác dụng dược lý</strong></td>
<td style="text-align: center;" valign="top"><strong>Chủ trị</strong></td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">1</td>
<td valign="top">Tăng   thể lực, chống nhược sức</td>
<td valign="top">Suy   nhược cơ thể</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">2</td>
<td valign="top">Kích   thích các hoạt động não bộ</td>
<td valign="top">Suy   nhược tinh thần</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">3</td>
<td valign="top">Tác   dụng kiểu nội tiết tố sinh dục</td>
<td valign="top">Suy   nhược sinh dục</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">4</td>
<td valign="top">Tăng   tạo hồng cầu, tiểu cầu</td>
<td valign="top">Chữa   thiếu máu, suy tiểu cầu</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">5</td>
<td valign="top">Đặc   hiều với vi khuẩn Streptococi</td>
<td valign="top">Chữa   viêm họng hạt</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">6</td>
<td valign="top">Antistress   giải lo âu và chống trầm cảm</td>
<td valign="top">Các   bệnh lý gây ra bởi stress</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">7</td>
<td valign="top">Tăng   cường chức năng gan và bảo vệ tế bào gan</td>
<td valign="top">Chống   xơ gan và giải độc gan</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">8</td>
<td valign="top">Giảm   cholesterol huyết, giảm lipit, tăng HDL</td>
<td valign="top">Xơ   vữa động mạch</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">9</td>
<td valign="top">Giảm   đường huyết hiệp lực với thuốc hạ đường huyết</td>
<td valign="top">Bệnh   tiểu đường</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">10</td>
<td valign="top">Điều   hòa hoạt động tim mạch</td>
<td valign="top">Loạn   nhịp tim và hạ huyết áp</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">11</td>
<td valign="top">Chống   ôxy hóa (Antioxidant)</td>
<td valign="top">Chống   lão hóa</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">12</td>
<td valign="top">Phòng   chống các loại ung thư</td>
<td valign="top">Hỗ   trợ thuốc chữa ung thư</td>
</tr>
<tr>
<td valign="top">13</td>
<td valign="top">Gia   tăng sức đề kháng không đặc hiệu</td>
<td valign="top">Suy   giảm miễn dịch</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Ngoài những tác dụng trên do các cơ sở khoa học tín nhiệm đã nghiên cứu và tổng kết, nhân sâm Ngọc Linh còn có những đặc tính ưu việt mà các loại nhân sâm khác không có được đó là nó không có độc tính khi sử dụng liên tục dài ngày, có thể dùng chữa bệnh cho trẻ sơ sinh đến người già với liều dùng từ 50mg đến 200mg cho 1kg thể trọng, nghĩa là người cân nặng 50kg có thể dùng 10gr một ngày. Nếu dùng 20gr một ngày có tác gây ngủ. Nếu dùng với liều 30gr đến 40gr thì có tác dụng như một thuốc giảm đau rất kỳ diệu. Trong vòng hơn 30 năm theo dõi lâm sàng đối với những bệnh nhân K giai đoạn cuối, nếu dùng 30gr-40gr ngày không còn thấy đau đớn.</p>
<p style="text-align: center;">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/nhan-sam-ngoc-linh/Cu-nhan-sam-ngoc-linh-50-nam.JPG" title="Củ nhân sâm Ngọc Linh trên 50 năm" class="shutterset_singlepic26" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=26&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Củ nhân sâm Ngọc Linh trên 50 năm" title="Củ nhân sâm Ngọc Linh trên 50 năm" />
</a>
<br />
Ảnh: Củ nhân sâm Ngọc Linh trên 50 năm tuổi</p>
<p style="text-align: center;">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/nhan-sam-ngoc-linh/Cu-nhan-sam-ngoc-linh-lau-nam.JPG" title="Củ nhân sâm Ngọc Linh lâu năm" class="shutterset_singlepic28" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=28&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Củ nhân sâm Ngọc Linh lâu năm" title="Củ nhân sâm Ngọc Linh lâu năm" />
</a>
<br />
Ảnh: Củ nhân sâm Ngọc Linh lâu năm</p>
<p>Những nghiên cứu về dược lý lâm sàng của nhân sâm Ngọc Linh được thực hiện tại những đơn vị dưới đây:</p>
<p>- Viện nghiên cứu sức khỏe người cao tuổi, Giáo sư Phạm Khuê và cộng sự.</p>
<p>- Quân y viện 175 Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo sư Đỗ Đình Luận và cộng sự.</p>
<p>- Viện điều dưỡng TP Hồ Chí Minh.</p>
<p>Chương trình theo dõi trên các bệnh nhân tình nguyện do bộ phận Dược lý Trung tâm Sâm Việt Nam thực hiện 1982 – 1986 đã kết luận:</p>
<p>- Bệnh nhân cảm thấy ăn ngon hơn, ngủ tốt hơn, tăng thể trọng, tăng thị lực, trí lực và thể lực được cải thiện tốt.</p>
<p>- Giảm mệt mỏi, chống nhược sức do lao động liên tục kéo dài.</p>
<p>- Gia tăng sức đề kháng của cơ thể trong các bệnh nhiễm trùng, khi phối hợp với các loại kháng sinh thông dụng.</p>
<p>- Cải thiện các chỉ số sinh hóa của cơ thể như: tăng dung tích sống, tăng chỉ số Tiffeneau, giảm cholesterol huyết. Tăng tỷ số A/G, tăng số lượng hồng cầu hemogolobin và hematocrit.</p>
<p>- Cải thiện suy nhược thần kinh, suy nhược sinh dục.</p>
<p>- Tăng huyết áp cho người suy nhược, huyết áp thấp.</p>
<p>- Nâng cao thể trọng giúp hồi phục nhanh chóng sau phẫu thuật dạ dày.</p>
<p>- Tác dụng giảm chữa và giảm đau khi viêm họng, giúp bệnh nhân dễ thở và ho có đờm trong các bệnh lý về phổi và phế quản. Ngăn chặn các cơn hen tái phát.</p>
<p>- Hiệp lực với thuốc điều trị tiểu đường.</p>
<p>Đã 37 năm liên tục theo dõi nghiên cứu tổng kết và ứng dụng nhân sâm Ngọc Linh vào điều trị bệnh, chúng tôi thấy hiếm có vị thuốc nào trên thế giới có được tác dụng đa dạng trong phòng bệnh và chữa bệnh, hỗ trợ sức khỏe như nhân sâm Ngọc Linh, nhất là dùng trong các trường hợp bệnh nhân bị ung thư, bị các bệnh về máu, bị suy thận, viêm cầu thận mãn, bệnh co thắt phế quản, viêm họng và họng hạt…</p>
<p>Ngày nay, nhân sâm Ngọc Linh đang được bảo tồn và phát triển ở vùng núi Ngọc Linh. Nhân dân cư trú trên núi Ngọc Linh đã quen với việc trồng bán tự nhiên, thu hái tự nhiên và kiêm việc bảo tồn nhân sâm Ngọc Linh tự nhiên. Có gia đình đã có hàng chục nghìn cây nhân sâm trồng bán tự nhiên trên các độ cao trên 2000m so với mặt biển.</p>
<p style="text-align: center;">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/nhan-sam-ngoc-linh/Cay-nhan-sam-ngoc-linh-hoang-dai.JPG" title="Cây nhân sâm Ngọc Linh hoang dại" class="shutterset_singlepic25" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=25&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Cây nhân sâm Ngọc Linh hoang dại" title="Cây nhân sâm Ngọc Linh hoang dại" />
</a>
<br />
Ảnh: Cây nhân sâm Ngọc Linh hoang dại</p>
<p>Người ta đã nghiên cứu việc đưa cây nhân sâm Ngọc Linh về Đà Lạt, về Sapa nhưng sản phẩm cây mọc ở đây hầu như không còn đủ hoạt chất chữa bệnh. Việc di thực nhân sâm Ngọc Linh đến các vùng núi lân cận có thấy cây mọc bình thường nhưng sau 2 năm theo dõi thì hầu hết không đủ hoạt chất so với mẫu đối chứng. Vì vậy nơi cung cấp sâm hoang dại chủ yếu hiện nay vẫn là ở núi Ngọc Linh.</p>
<p>Gần đây, do nhân sâm Ngọc Linh có uy tín cao trong việc hỗ trợ điều trị bệnh nên nhiều người đã tìm cách giả mạo. Họ mang sâm giả mạo nhân sâm Ngọc Linh đến bán ở ngay vùng quê của Ngọc Linh nên khá nhiều người bị nhầm lẫn. Nguồn gốc của nhân sâm giả này đã được báo chí đưa tin, nhưng hàng ngày thì việc giả mạo vẫn cứ diễn ra càng ngày càng tinh vi và phức tạp.</p>
<p>Hà Nội, 5/2010.<br />
Nam Y Đạo Pháp biên tập có sử dụng các tài liệu của đồng nghiệp: TS. Nguyễn Thị Thu Hương, TS. Đặng Ngọc Phái, TS. Lê Đình Bích, TS. Nguyễn Minh Đức, TS. Nguyễn Thới Nhâm.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=150</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Giới thiệu chung về bệnh máu trắng &#8211; Ung thư máu</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=138</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=138#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 21 May 2010 10:34:38 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bệnh máu trắng]]></category>
		<category><![CDATA[cảm nước]]></category>
		<category><![CDATA[lecemie cấp tính]]></category>
		<category><![CDATA[lecemie mãn tính]]></category>
		<category><![CDATA[suy giảm tiểu cầu]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư máu dòng lympho]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư máu dòng tủy]]></category>
		<category><![CDATA[đa u tủy suy giảm 3 dòng]]></category>
		<category><![CDATA[đa u tủy tăng 3 dòng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=138</guid>
		<description><![CDATA[Bệnh “máu trắng” hay ung thư máu là các bệnh thuộc về tủy xương mà các thầy thuốc phương Đông cổ xưa, khi quan sát sắc diện và các hiện tượng lâm sàng đã đi đến kết luận: “bệnh đã nhập xương cốt thì không chữa được nữa”. Y học hiện đại khi nghiên cứu [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Bệnh “máu trắng” hay ung thư máu là các bệnh thuộc về tủy  xương mà các thầy thuốc phương Đông cổ xưa, khi quan sát sắc diện và các  hiện tượng lâm sàng đã đi đến kết luận: “bệnh đã nhập xương cốt thì  không chữa được nữa”.</p>
<p>Y học hiện đại khi nghiên cứu về bệnh máu trắng đã làm xét nghiệm mô  tả kỹ các thành phần Hồng cầu – RBC, Bạch cầu – WBC, và Tiểu cầu – PLT,  căn cứ vào tình trạng rối loạn máu ngoại vi và chọc dò tủy xương để đi  đến kết luận bệnh xuất phát từ tủy xương và phân loại bệnh thành nhiều  dòng ung thư máu khác nhau.</p>
<p>Y học hiện đại chưa xác định được nguyên nhân cụ thể gây bệnh mà chỉ  có thể đề cập tới các yếu tố như tia phóng xạ, hóa chất công nghiệp,  virút, môi trường điện áp cao, di truyền…</p>
<p>Những thành tựu mới nhất về việc chữa các bệnh ung thư máu ở trẻ em  và người lớn ở Hoa Kỳ cũng chỉ đề cập đến những bệnh nhân sống sót sau 5  năm và ghi nhận là một yếu tố thành công mà không có liên hệ đến việc  điều trị khỏi hẳn đối với bệnh này.</p>
<p>Y học ngày nay đã sử dụng nhiều phương pháp điều trị hiện đại đối với  các bệnh máu này:</p>
<p>-         Điều trị nhắm đích</p>
<p>-         Gen trị liệu</p>
<p>-         Điều trị bằng tác nhân cảm ứng biệt hóa</p>
<p>-         Ghép tế bào gốc tạo máu</p>
<p>Các bệnh nhân máu trắng Lecemie cấp, mãn các dòng L, M thông thường  sau khi phát hiện bị mắc bệnh đều phải trải qua các quá trình điều trị  theo y học hiện đại rất tốn kém để có thể đạt được hiệu quả công thức  máu trở lại ổn định bình thường. Tuy vậy đa số hầu hết các bệnh nhân này  đều nơm nớp lo sợ sau khi điều trị, căn bệnh có thể tái phát bất kỳ lúc  nào bởi vì chính bệnh nhân và người trong gia đình bệnh nhân cũng hiểu  rõ sự ổn định trên chỉ mang tính chất tạm thời – ổn định chứ không phải  là khỏi hẳn.</p>
<p>Với hoàn cảnh kinh tế của Việt Nam nói chung hiện nay, những người  không may bị mắc bệnh máu trắng đều gặp phải khó khăn về tài chính khó  có thể vượt qua vì chi phí điều trị theo Tây y hiện đại vô cùng tốn kém.  Những bệnh nhân có điều kiện kinh tế đã sang tận Singapore, Mỹ để chữa  chạy tốn kém nhiều tỷ đồng mà kết quả cũng không lấy gì làm khả quan.</p>
<p>Cơ sở Nam Y Đạo Pháp chúng tôi đã có kinh nghiệm phối hợp điều trị  cho các bệnh nhân máu trắng sau khi đã chữa trị rất tốn kém ở nước ngoài  không hiệu quả, quay về nước dùng thuốc theo phương pháp Nam Y. Những  bệnh nhân này đã trải qua một quá trình dài dùng đủ các loại thuốc Tây y  độc hại, cơ thể suy yếu không còn đủ sức để đào thải, các chất độc tích  tụ thành một “bãi thải độc hại lớn” bên trong cơ thể. Bãi thải độc hại  này gây ô nhiễm nội môi – môi trường bên trong cơ thể. Mà chúng ta đều  biết nếu nội môi của ai đó sụp đổ thì người đó phải chết.</p>
<p>Như vậy, người chết của hết. Đối với bệnh máu trắng hay tất cả các  bệnh ung thư khác, những người không may mắc phải đều có chung hoàn cảnh  như vậy.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=138</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nam Y với bệnh máu trắng</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=130</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=130#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 18 May 2010 03:56:28 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bệnh máu trắng]]></category>
		<category><![CDATA[cảm nước]]></category>
		<category><![CDATA[lecemie cấp tính]]></category>
		<category><![CDATA[lecemie mãn tính]]></category>
		<category><![CDATA[suy giảm tiểu cầu]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư máu dòng lympho]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư máu dòng tủy]]></category>
		<category><![CDATA[đa u tủy suy giảm 3 dòng]]></category>
		<category><![CDATA[đa u tủy tăng 3 dòng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=130</guid>
		<description><![CDATA[Bệnh “máu trắng” hay ung thư máu bao gồm các bệnh sau:
-	Lecemie cấp, mãn dòng tủy Acute Myelogenous Leukemia – M và dòng lympho Acute Lymphoblasic Leukemia – L 
-	Các bệnh đa u tủy xương gây thiếu máu 3 dòng
-	Các bệnh giảm sinh tủy]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Nam Y được kế thừa văn hóa chữa bệnh hàng ngàn năm của tổ tiên  đất Việt và được tiếp cận nền văn minh chữa bệnh của cả Đông Y, Tây Y  kim cổ, qua thời gian dài chữa các bệnh hiểm nghèo và ung thư đã đúc rút  được kinh nghiệm và nhận xét về bệnh máu trắng – ung thư máu như sau:</p>
<h2>1. Bệnh máu trắng có nguyên nhân từ tủy xương</h2>
<p>Tủy xương có cấu tạo như một “lò ấp sinh học” rất kỳ diệu với các  điều kiện “cô lập” tiêu chuẩn xác định và không biến đổi dưới tác động  thông thường của môi trường bên ngoài và bên trong của cơ thể, nó chứa  các tế bào gốc để tạo ra các tế bào máu có công thức ổn định bình  thường.</p>
<p>Các tế bào gốc tạo máu giống như các “trứng” đặc biệt được ấp trong  “lò ấp sinh học” này. Ở người khỏe mạnh, các điều kiện tiêu chuẩn về  nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng… sẽ cho ra đời một thế hệ máu tối ưu.</p>
<p>Nếu một trong các điều kiện tiêu chuẩn ấy bị rối loạn, điển hình nhất  là nhiệt độ cơ thể tăng do sốt cao dài ngày xâm nhập vào tủy xương mà  cơ thể lại không tự điều chỉnh lại được thì sản phẩm máu sinh ra sẽ bị  rối loạn, đồng thời trong máu tỉ lệ bạch cầu non – tế bào lạ Blast tăng  cao không thể kiểm soát.</p>
<p>Tuy nhiên, sự biến thiên của các điều kiện sinh học được cô lập trong  tủy xương thay đổi vô hạn phụ thuộc vào thể trạng, dinh dưỡng và nội  môi nên thành phần máu cũng thay đổi vô hạn. Việc phân loại các bệnh máu  trắng của y học hiện đại chỉ dựa theo các rối loạn Lympho hay Mono cũng  chỉ mang tính chất tương đối.</p>
<h2>2. Nguyên nhân gây ra các rối loạn điều kiện cô lập ở tủy xương</h2>
<h3>2.1. Kinh nghiệm dân gian</h3>
<p>Quan sát từ hiện tượng ấp trứng của gia cầm gà, vịt, khi quả trứng có  sống, các trứng đủ điều kiện mới được ấp nở thành con. Trong mùa Xuân  và mùa Thu thì tỉ lệ trứng ấp nở tự nhiên và sống sót của gia cầm cao  hơn mùa Hè và mùa Đông. Ở đây ta thấy nhiệt độ và độ ẩm là hai yếu tố  môi trường quan trọng ảnh hưởng lớn tới kết quả của việc ấp trứng.</p>
<p>Nếu trứng gà vịt được chia lô đưa vào các lò ấp thủ công với các tay  thợ ấp khác nhau sẽ cho ra đời tỉ lệ gà vịt sống sót khác nhau, chất  lượng gà vịt con cũng khác nhau. Các lò ấp công nghiệp quy mô lớn dựa  vào đặc điểm sinh nở tự nhiên của gia cầm mà tạo ra các lò ấp điện tiêu  chuẩn để đạt được kết quả ấp trứng tối đa.</p>
<h3>2.2. Chữa bệnh máu trắng ở tủy xương</h3>
<p>Tế bào gốc của máu giống như các trứng có đủ điều kiện tốt nhất nếu  đưa vào lò ấp trứng sinh học không còn đủ các tiêu chuẩn cô lập ổn định  sẽ cho ra lò một hệ máu có công thức rối loạn được gọi là máu ung thư –  bệnh máu trắng.</p>
<p>Vậy bệnh máu trắng hay ung thư máu nói chung phải chữa vào “lò ấp  sinh học” tủy xương nơi sản sinh máu chứ không phải chỉ chữa rối loạn  máu ngoại vi. Tất nhiên khi máu ngoại vi đã bị rối loạn không còn đủ  điều kiện làm nhiệm vụ trong hệ tuần hoàn, căn cứ vào xét nghiệm máu để  cấp cứu bằng truyền máu. Có thể truyền máu thông thường hoặc đã tách rời  các thành phần theo yêu cầu cụ thể để truyền riêng tiểu cầu, hồng cầu  hay bạch cầu.</p>
<p>Việc truyền máu để duy trì sự sống cấp tốc chứ không phải là để chữa  ung thư máu. Truyền máu là y pháp và y thuật của y học hiện đại. Nếu  không được thực hiện thì Nam Y không có điều kiện để chữa khỏi bệnh máu  trắng.</p>
<p>Y học hiện đại có thể làm mọi y thuật để tiêu diệt hết tế bào Blast ở  máu ngoại vi rồi ghép tủy cho bệnh nhân máu trắng như kết quả cuối cùng  cũng vô ích vì “lồng ấp sinh học” tủy xương đã bị hư hỏng. Mặt khác các  thuốc độc hại dần dần làm mất hết khả năng sinh học tự nhiên của cơ thể  như khả năng miễn dịch, khả năng loại dị vật của cơ thể. Vì vậy việc  thất bại của việc ghép tủy xương là rất bình thường nhưng chi phi để  thực hiện nó thì vô cùng tốn kém. Đa số bệnh nhân mắc bệnh này ở Việt  Nam không có đủ điều kiện tài chính để thực hiện.</p>
<h3>2.3. Nguyên nhân gây bệnh máu trắng</h3>
<p>Sau thời gian dài tổng kết chữa bệnh máu trắng tại cơ sở Nam Y, chúng  tôi nhận thấy nguyên nhân trực tiếp dẫn đến “sốt tủy” (tức là khi nhiệt  độ trong “lò ấp sinh học” bị rối loạn tăng cao hơn mức bình thường) là  cảm nước.</p>
<p>Nguyên nhân gây ra cảm nước phát sinh từ thói quen sinh hoạt bình  thường của con người, đó là tắm nước lạnh khi đi biển, đi rừng núi, tắm  sông, tắm suối, đi mưa lạnh bị ướt, thường hay xảy ra vào mùa nóng do  người bệnh không để ý đến việc cơ thể bị mất nhiệt đột ngột, với lượng  lớn làm cơ thể sinh nhiệt quá mức gây sốt cao kéo dài và không đáp ứng  với các loại thuốc hạ nhiệt độ thông thường của cả Tây Y và Đông Y.</p>
<p>Cảm nước có thể xảy ra ở bệnh nhi từ 6 tháng tuổi (cháu Minh Triết,  tp HCM) đến người cao tuổi (ông Quỳ, Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội). Mỗi  người một vẻ, khi bị bệnh hồ sơ phân loại có thể là giảm sinh tủy, đa u  tủy, lecemie cấp, mãn các dòng, nhưng tất cả đều liên quan đến tắm biển,  tắm sông, tắm suối hay tắm lạnh, bị mưa lạnh khi đi đường. Biểu hiện  đầu tiên của cảm nước là sốt cao, chân tay lạnh, kéo dài không đáp ứng  với các thuốc chữa cảm sốt thông thường.</p>
<p>Đặc biệt có cháu bé ở làng rối (Thạch Thất, Hà Tây cũ) bị sốt kéo dài  từ 4 tuổi đến 8 tuổi, khi đang điều trị ở viện Nhi Trung ương, đến cơ  sở Nam Y của chúng tôi để khám bệnh. Vì chưa có rối loạn máu nên chúng  tôi cắt cho cháu 3 thang thuốc theo phương thuốc Kỳ Môn Y Pháp. Sau khi  uống 2 thang, cháu đã hết cơn sốt, sau đó hoàn toàn khỏi và lại đi học  bình thường.</p>
<p>Bác Hồ bị sốt ở Định Hóa trước khởi nghĩa, đó chính là sốt do cảm  nước. Mặc dù bệnh tình đã rất nguy kịch nhưng đã được một ông lang Nam Y  chữa khỏi.</p>
<p>Có một số người mới ốm dậy, các cháu bé còn non nớt đi vào các nơi có  âm khí lạnh lẽo như bãi tha ma, tảo mộ, sang cát, nơi khâm liệm người  chết, bị cảm lạnh sau đó cũng rất dễ bị sốt tủy và người ta thường cho  là kiểu sốt do “ma làm” cũng dẫn tới rối loạn máu.</p>
<p>Trong thời bình hiện nay, khi quan sát hầu hết các bệnh nhân máu  trắng đã theo chữa trị tại cơ sở Nam Y Đạo Pháp đều thấy rằng không liên  quan đến phóng xạ, nhiễm độc hóa chất, di truyền gen hay virut mà đều  liên quan đến nguyên nhân cảm nước.</p>
<p>Khi đã hiểu rõ nguyên nhân, chúng ta có thể khuyến cáo để phòng bệnh,  đó là phòng cảm do nguyên nhân nước. Từ ngàn xưa, các vị tiền bối đã  khuyến cáo rằng bệnh, dịch, thủy, hỏa, đạo tặc đều phải phòng tránh  trước sau mới đến chữa chạy, chống đỡ. Bệnh máu trắng cũng vậy, phải  chữa sớm, càng sớm càng tốt. Chỉ cần truyền máu xong chữa ngay thì khỏi  bệnh nhanh và đỡ tốn kém hơn nhiều. Nếu để muộn đến khi nội môi đã bị ô  nhiễm nặng nề hay sụp đổ thì cơ hội chữa khỏi là rất ít.</p>
<h2>3. Để chữa khỏi bệnh máu trắng</h2>
<h3>3.1. Chẩn đoán nhanh</h3>
<p>-         Chú ý đến tình trạng sốt cao liên tục kéo dài không đáp ứng  với bất kỳ thuốc hạ sốt và các biện pháp của y học hiện đại.</p>
<p>-         Số cao nhưng bàn chân bàn tay rất lạnh</p>
<h3>3.2. Xét nghiệm máu</h3>
<p>Xét nghiệm công thức máu để biết rối loạn của các thành phần máu. Khi  đã sốt cao kéo đến 8, 9 ngày hay 2 tuần liên tục thì công thức máu bắt  đầu rối loạn, thường là giảm cả hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu, có hoặc  chưa có tế bào Blast.</p>
<h3>3.3. Truyền máu</h3>
<p>Truyền máu khi các thành phần máu bị suy giảm để đảm bảo cho hệ tuần  hoàn hoạt động hiệu quả.</p>
<h3>3.4. Các biện pháp can thiệp của Nam Y</h3>
<p>-         Đánh gió khi bị cảm nước bằng cám gạo rang nóng cho đến khi  bàn chân bàn tay ấm lên.</p>
<p>-         Châm cứu điều nhiệt.</p>
<p>-         Uống thuốc theo Kỳ Môn Y Pháp.</p>
<p>-         Chống bội nhiễm do vi trùng vi khuẩn bằng nhân sâm Ngọc  Linh.</p>
<p>-         Tăng cường tự vệ và miễn dịch bằng Linh đan Thiềm Ô Châu.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=130</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Kết luận</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=128</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=128#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 18 May 2010 03:54:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bệnh máu trắng]]></category>
		<category><![CDATA[cảm nước]]></category>
		<category><![CDATA[lecemie cấp tính]]></category>
		<category><![CDATA[lecemie mãn tính]]></category>
		<category><![CDATA[suy giảm tiểu cầu]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư máu dòng lympho]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư máu dòng tủy]]></category>
		<category><![CDATA[đa u tủy suy giảm 3 dòng]]></category>
		<category><![CDATA[đa u tủy tăng 3 dòng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=128</guid>
		<description><![CDATA[Nam Y được kế thừa văn hóa chữa bệnh hàng ngàn năm của tổ tiên đất Việt và được tiếp cận nền văn minh chữa bệnh của cả Đông Y, Tây Y kim cổ, qua thời gian dài chữa các bệnh hiểm nghèo và ung thư đã đúc rút được kinh nghiệm và nhận xét về bệnh máu trắng – ung thư máu như sau:]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Rất ít trường hợp bệnh nhân mắc bệnh máu trắng mà Nam Y được  can thiệp từ đầu trừ trường hợp của cháu Minh Triết, mắc bệnh từ 6 tháng  tuổi (2005) ở thành phố Hô Chí Minh, nay cháu đã 5 tuổi và cháu Doãn  Minh (sinh năm 2005), bị mắc bệnh năm 2010. Còn lại đa số đều đã trải  qua điều trị can thiệp Tây Y, sử dụng nhiều loại thuốc biệt dược của y  học hiện đại, có người cũng đã được ghép tủy nhưng bệnh vẫn không khỏi  hẳn.</p>
<p>Vậy bệnh máu trắng là bệnh phải được điều trị kết hợp cả Tây Y và Nam  Y, phải được chẩn đoán rất sớm nguyên nhân sốt cao gây sốt tủy và lấy  Nam Y làm chính mới có hy vọng chữa khỏi bệnh hoàn toàn, tránh được mất  của, mất người.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=128</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phòng bệnh máu trắng</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=123</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=123#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 18 May 2010 03:31:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bệnh máu trắng]]></category>
		<category><![CDATA[cảm nước]]></category>
		<category><![CDATA[lecemie cấp tính]]></category>
		<category><![CDATA[lecemie mãn tính]]></category>
		<category><![CDATA[suy giảm tiểu cầu]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư máu dòng lympho]]></category>
		<category><![CDATA[ung thư máu dòng tủy]]></category>
		<category><![CDATA[đa u tủy suy giảm 3 dòng]]></category>
		<category><![CDATA[đa u tủy tăng 3 dòng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=123</guid>
		<description><![CDATA[Vì lý do cảm nước gây ra sốt cao không đáp ứng với thuốc hạ nhiệt thông thường và dẫn đến bệnh máu trắng – ung thư máu. Cần quan tâm đến khi tắm gội, nhất là các cháu bé, kể cả các cháu còn rất bé từ 2, 3 tháng tuổi trở lên. Cảm [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Vì lý do cảm nước gây ra sốt cao không đáp ứng với thuốc hạ nhiệt  thông thường và dẫn đến bệnh máu trắng – ung thư máu. Cần quan tâm đến  khi tắm gội, nhất là các cháu bé, kể cả các cháu còn rất bé từ 2, 3  tháng tuổi trở lên.</p>
<p>Cảm nước có thể xảy ra ở cả bốn mùa nhưng dễ xảy ra nhất vào mùa hè  nắng nóng. Những người mới ốm dậy, các cháu còn bé, những người có tiền  sử hoặc đang có hiện tượng suy giảm miễn dịch hay bị mắc bệnh tự miễn  dịch, ví dụ bệnh giảm tiểu cầu, nên chú ý đề phòng các trường hợp sau:</p>
<p>-         Khi đi đường trời đổ mưa bị ướt lạnh.</p>
<p>-         Khi đi tắm sông, suối, biển, hoặc tắm trong các bể bơi nước  lạnh.</p>
<p>-         Nên tránh tối đa việc để người đang bị ốm và các cháu quá  nhỏ vào các nơi khâm liệm người chết, tảo mộ, sang cát vì đó là các nơi  dễ xảy ra cảm sốt hoặc tái phát bệnh.</p>
<p>Khi bị sốt cao nên dùng các biện pháp để hạ sốt như rang cám nóng  đánh gió, uống các thuốc nam có sẵn như nước ép rau má, nước ép rau diếp  cá, nước ép cây nhọ nồi. Nếu không đỡ phải đến bệnh viện để xét nghiệm  xem trường hợp sốt có liên quan đến các nguyên nhân khác như sốt dịch vi  trùng, virut không.</p>
<p>Không nên xem thường mọi trường hợp bị sốt nhất là có liên quan đến  cảm nước.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=123</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiếp cận với châm cứu</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=103</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=103#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 16 May 2010 08:23:22 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần Châm chữa bệnh]]></category>
		<category><![CDATA[Châm cứu]]></category>
		<category><![CDATA[chữa bệnh]]></category>
		<category><![CDATA[Thần Châm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=103</guid>
		<description><![CDATA[Người nguyên thủy sơ khai nhất chỉ có hai hoạt động phổ biến hàng ngày: săn bắt mồi và chạy trốn kẻ thù. Hai hoạt động ấy lặp đi lặp lại, thường xảy ra với cường độ cao và quyết liệt khiến nguồn năng lượng dự trữ ATP – (Adenosine triphosphate) ở các bó cơ bị cạn kiệt đến mức chúng bị co rút khẩn cấp. Hiện tượng này thường gọi là chuột rút.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Người nguyên thủy sơ khai nhất chỉ có hai hoạt động phổ biến hàng ngày: săn bắt mồi và chạy trốn kẻ thù. Hai hoạt động ấy lặp đi lặp lại, thường xảy ra với cường độ cao và quyết liệt khiến nguồn năng lượng dự trữ ATP – (<em>Adenosine triphosphate</em>) ở các bó cơ bị cạn kiệt đến mức chúng bị co rút khẩn cấp. Hiện tượng này thường gọi là chuột rút.</p>
<p>Chuột rút có thể xảy ra cục bộ ở chân, tay, lưng, cổ… hoặc có thể xảy ra toàn thân khiến mọi cử động bị đình chỉ làm cho người đang chạy bị ngã, đang bơi bị chìm…</p>
<p>Khi các bó cơ bị co cứng đã ép chặt và siết mạnh lên các sợi thần kinh gây cảm giác đau đớn, người nguyên thủy lấy tay cào cấu, xoa nắn và sau đó là lấy đá sẵn có cạnh nhọn dấn mạnh vào những chỗ bị co cứng ấy, có khi đâm mạnh đến chảy máu để cứu thoát. Đó là động tác châm cứu đầu tiên của loài người và <strong>thạch châm</strong> (dùng đá để châm) ra đời. Huyệt và châm cứu được những ông bà người vượn tình cờ phát hiện như vậy.</p>
<p>Thạch châm chỉ nhằm cứu thoát tình trạng chuột rút do hiện tượng thiếu máu cục bộ dẫn tới sự co cứng cục bộ. Khi ấy chưa có khái niệm về huyệt, mạch, kinh lạc…</p>
<p>Xã hội loài người phát triển hơn, những người thầy châm nguyên thủy đã thay hòn đá bằng que, gai, tre, trúc… nhọn, tự nhiên hay được chế tác cũng cùng mục đích cứu thoát các trường hợp bị chuột rút. Hình thức dùng que, gai, tre, trúc nhọn để châm gọi tắt là <strong>trúc châm</strong>.</p>
<p><strong>Thạch châm</strong> và <strong>Trúc châm</strong> là hình thức châm cứu cổ sơ nhất có thể gọi đó là giai đoạn đại trường châm.</p>
<p><strong>Đại trường châm</strong> có các nhược điểm cơ bản là phá hoại tổ chức cơ thể, tổn hao cơ và thần kinh gây viêm nhiễm và dấu vết lớn. Vì vậy khi loài người biết dùng kim khí trong sinh hoạt đời sống thì thạch châm, trúc châm đã cáo chung nhường chỗ cho <strong>vi châm</strong>. Người thầy châm cứu dùng kim đồng, vàng, bạc… từ to thô đến rất nhỏ. Kinh nghiệm còn cho thấy những người thầy châm biết dùng lửa sẵn có ở bếp củi hoặc “lửa hỏa thang” – (lửa đốt rượu) đốt kim trước khi châm để tránh tai biến nhiễm trùng, mặc dù khi đó loài người chưa có kiến thức về vi khuẩn và nhiễm khuẩn.</p>
<p>Ban đầu châm cứu chỉ là để cấp cứu khi bị co cơ chuột rút. Người nguyên thủy chưa có khái niệm huyệt nhưng từ kinh nghiệm của nhiều thế hệ đã giúp họ nhận biết được những điểm, những vùng ổn định trên cơ thể khi châm kim vào tác dụng chữa bệnh có hiệu quả nhất và đã đặt tên cho chúng. Kinh nghiệm được tích lũy, số huyệt được đặt tên ngày càng nhiều. Sách Nội Kinh là quyển sách y khoa cổ nhất Trung Hoa đã ghi được 295 huyệt. Đến đời Tống trên tượng đồng châm cứu đã mô phỏng được 350 huyệt. Đến thế kỷ 17, quyển Châm cứu Đại Thành của Dương Kế Châu ghi được 763 huyệt. Còn ở Việt Nam, lịch sử châm cứu cũng đã trải qua hàng nghìn năm, các tác giả đến nay còn được biết đến trong thư tịch như An Kỳ Sinh thời An Dương Vương, Khổng Minh Không triều Lý, Tuệ Tĩnh triều Trần, Nguyễn Đại Năng Triều Hồ và đến thế kỷ 17 – 18, Hải Thượng Lãn Ông đã ghi trong Y Tôn Tâm Lĩnh được 702 huyệt.</p>
<p>Nhiều huyệt được đặt tên trên cơ thể; các thầy châm nhiều thế hệ đã thấy được tác dụng gần giống nhau của một số huyệt sắp xếp trên cơ thể theo một đường vẽ ổn định, nên các khái niệm về kinh, mạch đã hình thành.</p>
<p>Huyệt, kinh, mạch… đã được khá nhiều tác phẩm và tác giả cổ kim Đông, Tây bàn luận, nghiên cứu và tổng kết. Những ai muốn tiếp cận với châm cứu đầu tiên đều gặp phải những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua. Những khái niệm về huyệt, về kinh, mạch… được định nghĩa và vẽ ra, chỉ rõ đường đi tuần hoàn, lên xuống, ngược, xuôi… thế nhưng những khái niệm ấy đều chỉ có thể cảm nhận, không thể lấy những kiến thức hiện có của khoa học hiện đại để xem xét.</p>
<p>Ví dụ: Định nghĩa về huyệt (theo sách châm cứu học của Viện Đông Y Việt Nam) nguyên văn như sau: “Theo Thiên cửu châm thập nhị nguyên của sách Linh Khu, huyệt là nơi thần khí hoạt động vào ra, nó được phân bố khắp phần ngoài cơ thể, nhưng không phải là hình thái tại chỗ của da, cơ, gân, xương” (Sở ngôn tiết giả, thần khí chi sở du hành xuất nhập dã). Theo định nghĩa cổ nhất của huyệt mà Viện Đông Y Việt Nam coi là chuẩn mực thì thần và khí là hai dạng vật chất có thể đi ra đi vào ở huyệt. Khoa học hiện đại chưa có công trình chứng minh hai dạng vật chất này. Nhưng muốn nghiên cứu châm cứu trước tiên hãy coi đó như một tiền đề, hãy học thuộc lòng và chấp nhận vậy.</p>
<p>Khi bước vào thế giới của châm cứu, tôi có cảm giác như ngồi trên một chếc thuyền con bơi vào biển cả đầy sóng gió mịt mù. Khoảng 40 năm bắt đầu từ thất bại của nhà châm cứu Triều Tiên Kim Mon Han đến nay tôi mới ngộ được rằng châm cứu là một thành tựu vĩ đại của nhân loại dùng để cấp cứu và sau đó dùng kết hợp với cây cỏ để chữa bệnh.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=103</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khám phá bản chất châm cứu</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=100</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=100#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 16 May 2010 05:53:57 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần Châm chữa bệnh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=100</guid>
		<description><![CDATA[Như đã trình bày ở trên, loài người đã lấy đá, lấy que, gai, tre, trúc nhọn và kim loại là các nguyên liệu rất khác xa nhau về bản chất để thực hiện một mục đích chữa bệnh mà kết quả lại đạt tới mỹ mãn và kỳ diệu.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Như đã trình bày ở trên, loài người đã lấy đá, lấy que, gai, tre, trúc nhọn và kim loại là các nguyên liệu rất khác xa nhau về bản chất để thực hiện một mục đích chữa bệnh mà kết quả lại đạt tới mỹ mãn và kỳ diệu. Dưới con mắt của các thầy thuốc hiện đại có thể dễ dàng nhận thấy kim châm bằng đá, bằng que, gai, tre, trúc, bằng kim loại vàng, bạc, đồng… khi châm sâu vào tổ chức cơ thể để yên đó chúng có bản chất là “dị vật” của cơ thể.</p>
<p>Không dung nạp dị vật là đặc tính rất cơ bản của mọi cá thể sinh vật. Khi có dị vật xâm nhập vào bên trong cơ thể, tổ chức sống của cơ thể sẽ tự huy động mọi nguồn năng lượng nội sinh có thể huy động được đến nơi đó để loại bỏ hoặc vô hiệu hóa sự xâm hại của dị vật.  Châm cứu chính là phương pháp huy động nguồn năng lượng tiềm ẩn và to lớn này để chữa bệnh. Năng lượng được huy động để loại bỏ dị vật rất đa dạng bao gồm rất nhiều cơ chế như cơ chế giảm đau, cơ chế kháng thể, hệ miễn dịch, hệ bạch huyết để loại vi khuẩn, cơ chế hàn gắn sinh cơ, cơ chế đông máu…</p>
<p>Đặc tính không dung nạp dị vật có cả ở các cơ thể đơn giản chưa có cấu trúc thần kinh hoặc cơ cấu thần kinh chưa phát triển. Năng lượng để loại dị vật thường trực và rất mạnh mẽ. Khi một hạt cát nhỏ lọt vào cơ thể con trai, cơ thể con trai không loại hạt cát đi bằng cách làm tan vỡ hay đẩy ra khỏi cơ thể được, nó đã huy động xà cừ bao chặt lấy và dần biến hạt cát thành viên ngọc. Trong chiến tranh, chúng ta đã gặp rất nhiều trường hợp những mảnh bom bi, mảnh đạn nhỏ lọt vào cơ thể không thể mổ gắp ra, chúng lẩn mãi sâu trong cơ sát trong xương, nhưng sau nhiều năm, những viên bom đạn ấy bị đẩy ra sát trong lớp mỡ dưới da, sờ nắn thấy được và không đau vì chúng được bao trong một lớp màng bọc an toàn.</p>
<p>Ở những cơ thể động vật bậc cao và nhất là con người còn có một loại năng lượng khác được ứng dụng trong châm cứu là năng lượng sinh ra từ phản ứng tự vệ (phản vệ). Năng lượng sinh ra từ phản vệ xảy ra tức khắc và quyết liệt: một cơn gió, một mùi lạ, một tiếng động, một ánh mắt nhìn… có thể gây cho vật hay người chết đứng, ngã vật giống như chuột nhìn thấy mèo vậy. Ứng dụng nguồn năng lượng mạnh mẽ này, một số chiếc kim nhỏ có thể cứu thoát ngay một con người hay một con vật thoát chết.</p>
<p>Thực chất châm cứu hiện hành vẫn và đang dùng hai nguồn năng lượng này để chữa bệnh nhưng hầu như vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào huyệt mạch cổ và sự giải thích định nghĩa ngàn xưa. Chúng tôi coi đây là <strong>châm cứu nguyên thủy</strong>.</p>
<p>Thần châm là một môn phái châm cứu của bản gia, tôn trọng mọi sự phát hiện cổ và tân về huyệt mạch của châm cứu nguyên thủy nhưng khác là không lệ thuộc vào những cơ chế giải thích về huyệt mạch của châm cứu nguyên thủy mà đã ứng dụng hai đặc tính sinh học cơ bản nhất của cơ thể động vật và con người là không dung nạp dị vật và phản ứng tự về để xây dựng nên trường phái châm cứu của mình, gọi tắt là Thần Châm.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=100</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Dụng cụ của Thần Châm</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=98</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=98#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 16 May 2010 05:50:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần Châm chữa bệnh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=98</guid>
		<description><![CDATA[1. Kim dùng trong Thần châm Thần châm chỉ dùng kim cỡ nhỏ nhất hiện có bán trên thị trường trong nước hoặc đặt làm bằng hợp kim bạc có đường kính từ 0,1 – 0,3mm cùng cỡ đường kính bền vững với tác dụng vật lý và hóa học, không gãy không han rỉ. Nhà [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h2>1. Kim dùng trong Thần châm</h2>
<p>Thần châm chỉ dùng kim cỡ nhỏ nhất hiện có bán trên thị trường trong nước hoặc đặt làm bằng hợp kim bạc có đường kính từ 0,1 – 0,3mm cùng cỡ đường kính bền vững với tác dụng vật lý và hóa học, không gãy không han rỉ. Nhà châm cứu Nhật Bản Tikigai Okuto trên thực nghiệm đưa chiếc kim châm cứu vào sâu cơ thể 2mm (không mô tả cách châm cụ thể) thấy đứt 10 – 20 sợi thần kinh và gây tổn thương từ 4 đến 20 sợi cơ. Vì vậy sau khi châm cứu, cơ thể phải mất một số năng lượng để hàn gắn lại vết thương này. Nếu châm hàng chục chiếc kim độ sâu nông khác nhau có thể gây ra mất năng lượng đáng kể, vì vậy môn thần châm cấm dùng kim to và quá dài để tránh sự tổn thương cơ, thần kinh vô ích và tránh các tai biến bất ngờ, không chủ ý khi chiếc kim châm không đúng hướng.</p>
<p>Khi cần châm một đoạn dài, Hoa Đà thầy châm nổi tiếng của Trung Quốc từ xa xưa đã dùng đến 36 chếc kim ngắn châm tiếp nhau dọc hai bên cột sống, gọi là Hoa Đà giáp tích. Xét trên góc độ thần châm thấy rằng để ứng dụng năng lượng loại dị vật trên một chiều dài cần thiết, Hoa Đà đã dùng nhiều kim nhỏ để tránh tối đa việc đứt cơ và thần kinh gây tổn hại cơ thể. Để dùng năng lượng của phản ứng tự vệ, Hoa Đà đã lặp lại động tác châm gây đau đến 36 lần trên lưng. Khi thực nghiệm bằng phép của Hoa Đà có thể thấy cơ lưng dần được tích thêm dự trữ mềm dẻo thêm, các đốt sống không bị kéo chặt sát vào nhau, thần kin đi qua các khe đốt sống không bị chèn ép nữa.</p>
<p><em><span style="text-decoration: underline;">Tóm lại</span>: </em>Thần châm chỉ dùng kim cỡ nhỏ, cấm dùng trường châm vì kim dài phải to hơn hàng chục lần đường kính của kim bé.</p>
<h2>2. Châm cứu kết hợp dùng thuốc để chữa bệnh</h2>
<p>Không châm cứu mà không kết hợp dùng thuốc để chữa bệnh dài ngày vì châm cứu làm mất năng lượng của cơ thể. Những bệnh nhân cần châm cứu đều biểu hiện thiếu hụt năng lượng nhiều hoặc ít. Vì vậy khi châm để huy động năng lượng đến nơi cần thiết thì nơi khác vùng khác của cơ thể sẽ bị thiếu hụt năng lượng. Nếu không có hình thức nghỉ ngơi, uống thuốc giúp cho cơ thể tiếp thu được thêm năng lượng từ lương thực, thực phẩm sẽ gây cho cơ thể thiếu hụt năng lượng ngày càng nhiều và dẫn tới suy thoái toàn bộ cơ thể, bệnh sẽ nặng lên.</p>
<h2>3. Cấy chỉ</h2>
<p>Không cấy chỉ tự tiêu vào huyệt vì châm cứu huy động năng lượng nội sinh để loại dị vật là chiếc kim châm, khi rút kim đi năng lượng dư thừa ấy là nguyên nhân để chữa bệnh tại chỗ và tập hợp các kim cùng được rút đi, năng lượng được huy động có những khả năng chữa bệnh rất to lớn như có thể giải thoát tình trạng tắc mạch ở đầu chi để chữa bệnh viêm tắc động mạch, có thể giải thoát tình trạng viêm họng ho mãn tính lâu ngày… Nhưng nếu ta cấy chỉ vào huyệt sẽ xảy ra hiện lúc đầu là đưa dị vật vào cơ thể để huy động năng lượng chữa bệnh nhưng dị vật ấy lại không bền với tác động lý hóa của lực sinh học nên sợi chỉ tự tiêu đã trở thành chướng vật cần phải loại bỏ và tan dần. Cơ thể bị mất một số năng lượng vô ích không ý nghĩa. Nếu cơ thể đã suy yếu không tiêu nổi sợi chỉ thì ở đấy sẽ xảy ra hiện tượng viêm nhiễm có khi rất trầm trọng.</p>
<h2>4. Thủy châm</h2>
<p>Không tiêm thuốc hoặc nước cất muối… tóm lại không được thủy châm vào huyệt. Vì thứ nhất chiếc kim to hơn kim châm cứu hàng chục lần sẽ phá hoại cơ và thần kinh nơi châm, chiếc kim lại rút ra ngay sau khi tiêm còn lại là chất dịch tiêm vào sẽ được phân tán đi nhanh chóng ra toàn bộ cơ thể và thấm vào hệ tuần hoàn. Vì vậy nó không có ý nghĩa dị vật lưu giữ tại chỗ để năng lượng sinh học tập trung mà sau đó là tác dụng của thuốc tiêm vào trên cơ sở chuyển hóa toàn thân. Vì vậy nếu là cần tác dụng của thuốc thì sẽ không hơn gì tiêm vào nơi quy định: bắp cơ hay tĩnh mạch; chưa kể đến việc tai biến có thể xảy ra do tiêm thuốc vào huyệt gây ra rất nhiều. Viện Đông y Việt Nam tổng kết trong 15 năm, cứ khoảng 10.000 mũi tiêm có một áp xe do tiêm vào huyệt gây nên, còn châm cứu bằng kim thông thường, hàng triệu mũi châm chưa bị một lần nào có hiện tượng áp xe xảy ra. Ngoài ra thủy châm vào huyệt còn có nhiều tai biến khác do huyệt phản ứng với thuốc gây nên.</p>
<h2>5. Thần châm có thể châm vô số huyệt</h2>
<p>Châm cứu hiện hành có chừng gần 1.000 huyệt được ghi tên hoặc chưa ghi tên. Đa số các huyệt ấy được ghi trên bản đồ huyệt hay trên tượng huyệt, có huyệt nằm trên các đường kinh, mạch, lạch mạch, đới mạch… nhưng cũng có các huyệt ngoài kinh. Châm cứu nguyên thủy còn châm loa tai, châm a thị huyệt, gõ kim Mai Hoa… Như vậy người xưa và nay cũng đã từng dùng vô số huyệt trong châm cứu. Những thầy châm cứu của phái Thần Châm ngoài những kiến thức nguyên thủy ấy cần phải có kiến thức hiện đại về giải phẫu và thần kinh để khi châm không bị lệ thuộc nhiều vào vị trí của huyệt và đường đi của kinh lạc.</p>
<h2>6. Bảo toàn năng lượng khi châm cứu</h2>
<p>Không châm cứu trên các cơ thể suy yếu và có các biểu hiện đang thiếu hụt năng lượng trầm trọng nhiều nơi với mục đích đơn thuần là thu hút năng lượng. Đây là vấn đề rất tinh tế. Thông thường khi đói quá, khi no quá, khi ốm yếu lâu ngày, mới tắm gội, còn say rượu, đi từ xa đến còn mệt mỏi… không nên châm vì dễ bị vượng châm làm bệnh nhân sợ hãi. Trong trường hợp này chỉ nên ứng dụng năng lượng phản vệ để châm cấp cứu mà thôi. Người thầy giỏi chỉ cần xem mạch có thể biết châm hay không hoặc có thể châm như thế nào, còn thông thường rất nên tránh để khỏi gặp phải những biến cố không mong muốn. Để tránh tình trạng vượng châm còn có thể vận dụng lịch thời châm. Giáo sư kiêm lương y Lê Thanh Lân đã có tài liệu viết về cách tính lịch thời châm khá hay, những thầy châm cứu có thể tham khảo thêm khi cần thiết.</p>
<h2>7. Thời gian lưu kim của thần châm</h2>
<p>Khi châm cứu có mục đích cấp cứu thì thời gian lưu kim không đặt ra, nhưng những người được châm cứu với mục đích huy động năng lượng thì thời gian lưu kim rất cần thiết</p>
<p>Châm cứu nguyên thủy có kinh nghiệm rút ra khi có hiện tượng đắc khí: xung quanh vết châm đỏ lên, kim bị đẩy lồi ra, hoặc bị hút trũng vào… cổ phương có thể dùng tay xoay kim nhấc ra đẩy vào để kích thích làm nhanh đắc khí.</p>
<p>Hiện nay môn phái Thần Châm thường lưu kim từ 45 –  60 phút (trừ các trường hợp đặc biệt) vì thời gian như vậy là thích hợp nhất để huy động năng lượng. Bệnh nhân có thời gian ngồi, nằm, và chịu đựng một khoảng thời gian như thế là vừa đủ. Thời gian dài hơn nữa sẽ gây phiền toái. Nếu lưu kim quá dài vài ba ngày thì cơ thể sẽ phải huy động năng lượng lớn để bao kim lại, điều ấy không còn ý nghĩa dùng năng lượng dư thừa. Nếu thời gian lưu kim ngắn hơn 45 – 60 phút thì hiệu quả huy động năng lượng nội sinh kém.</p>
<h2>8. Cách thức châm cứu</h2>
<p>Không châm cứu để huy động năng lượng nhiều lần trên cùng một chỗ, hay một vùng nhất định của cơ thể. Không châm cứu hàng ngày mà phải để bênh nhân có ít nhất một hoặc hai ngày uống thuốc và ăn uống để bổ sung thêm dinh dưỡng và năng lượng cho cơ thể.</p>
<p>Thần châm có một phương thuốc riêng gọi là Kỳ Môn Y Pháp giúp cho cơ thể người bệnh tích lũy năng lượng nhanh để có thể châm cứu chữa bệnh dài ngày trong việc phục hồi thoái hóa cơ và thoái hóa xương.</p>
<p>Để châm cứu thần châm có hiệu quả cao, cần phải kiêng tắm gội trước và sau khi châm cứu trong ngày. Việc châm cách nhật rất có ý nghĩa để bệnh nhân có thời gian chăm sóc và vệ sinh các nhân phục hồi cơ thể.</p>
<h2>9. Không dùng tia laser, tia tử ngoại, tia X</h2>
<p>Theo quan điểm của châm cứu thần châm thì không sử dụng tia cứng như laser, tia tử ngoại, tia X trong châm cứu vì tính chất phá hủy tế bào mô, cơ, xương của các tia này mà không mang ý nghĩa sử dụng nguồn năng lượng tiềm ẩn của cơ thể để chữa bệnh.</p>
<h2>10. Xoa bóp, bấm huyệt và cứu ngải</h2>
<p>Châm cứu có tác dụng hoàn toàn khác với xoa bóp, bấm huyệt, giác, trích lể và cứu lửa mồi ngải trên huyệt, vì châm cứu bằng kim mới có tác dụng huy động năng lượng nội sinh loại dị vật của cơ thể để chữa bệnh, mặc dù các phương pháp trên có nhiều điểm tương đồng có ý nghĩa huy động máu đến các vùng cơ thể cần thiết. Tuy nhiên về mọi mặt, châm cứu thần châm không những chỉ đạt hiệu quả cao nhất trong chữa bệnh mà nó còn có tính thẩm mỹ rất cao, không để lại sẹo hay dấu vết sau khi thực hiện kỹ thuật điều trị, mà lại an toàn tuyệt đối.</p>
<h2>11. Sử dụng máy điện châm</h2>
<p>Để tăng cường hiệu quả châm cứu, thần châm cũng phối hợp kích thích bằng máy điện châm, loại máy được sản xuất tại Việt Nam: Model DC 6V–2FB và Model DC 6V–2FC với tần số và cường độ điều khiển thích hợp cho từng trường hợp châm cứu và bệnh nhân cụ thể.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=98</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một số ứng dụng đặc biệt của Thần Châm</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=95</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=95#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 16 May 2010 05:47:54 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần Châm chữa bệnh]]></category>
		<category><![CDATA[Châm cứu]]></category>
		<category><![CDATA[chữa bệnh]]></category>
		<category><![CDATA[Thần Châm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=95</guid>
		<description><![CDATA[1. Thu hút năng lượng để phục hồi cơ và xương bị thoái hóa Ví dụ 1: Bệnh thoái hóa các đốt sống cổ Nguyên nhân gây nên bệnh thoái hóa các đốt sống cổ là do hai bó cơ ở hai bên 7 đốt sống cổ bị thiếu máu cục bộ co ngắn lại [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h2>1. Thu hút năng lượng để phục hồi cơ và xương bị thoái hóa</h2>
<h3><em><span style="text-decoration: underline;">Ví dụ 1</span></em><em><span style="text-decoration: underline;">:</span></em> Bệnh thoái hóa các đốt sống cổ</h3>
<p>Nguyên nhân gây nên bệnh thoái hóa các đốt sống cổ là do hai bó cơ ở hai bên 7 đốt sống cổ bị thiếu máu cục bộ co ngắn lại kéo các đốt sống lại gần nhau đến mức chạm hẳn vào nhau. Chúng không có đủ các chất dinh dưỡng được máu cung cấp nên phải tự đốt các chất hữu cơ trong xương để lại lớp vôi mỏng bám bên ngoài. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến việc các đốt sống ấy có thể bị xốp xương tại chỗ. Tình trạng này có thể dẫn tới các triệu chứng lâm sàng như sau:</p>
<p>˗            Đau cổ, đau hai vai hay một bên vai, tê một tây hay hai tay và có thể dẫn tới teo cơ do thần kinh bị chèn ép.</p>
<p>˗            Động mạch sau cổ bị co nhỏ, dòng máu cung cấp lên vùng hố chẩm bị thiếu hụt, động mạch cảnh tăng cường bơm máu bù lên não gây hiện tượng rối loạn tuần hoàn não, da đầu có thể đau và mọng nước, hiện tượng thiếu máu hố chẩm có thể dẫn tới đau đầu, chóng mặt, mờ mắt, khô giác mạc, đục nhân mắt và mù “không rõ nguyên nhân”.</p>
<p>Để khắc phục tình trạng này chỉ cần dùng một số kim châm nhỏ thần châm trên cơ cổ và vai có thể giải thoát được. Các vị trí huyệt châm cụ thể như sau:</p>
<p>1. Huyệt Cảnh Trung ở giữa hai bên cơ cổ, huyệt có vị trí cố định</p>
<p>Cảnh Trung chữ Hán có nghĩa là giữa cổ, do bản môn phát hiện và thường ứng dụng để chữa bệnh (Cảnh Trung – Kim Long Đao).</p>
<p>Lấy huyệt Cảnh Trung căn cứ vào tóc gáy làm mốc, từ đó đến huyệt Đại Chùy chia lấy điểm giữa. Điểm gặp nhau giữa đường cắt ngang qua điểm này gặp hai đường song song từ góc tóc gáy đi xuống, đó là khe giữa hai bó cơ dọc cổ. Dùng kim cỡ nhỏ đường kính 2 – 3mm, dài 4 – 5cm đưa xoáy nhanh qua lớp da 1,5mm rồi đẩy chếch kim 15<sup>o</sup> xuôi xuống và sâu vào cơ 10 – 15mm.</p>
<p>2. Huyệt Đại Chùy châm sâu 1,5mm qua lớp da và chếch kim 45<sup>o</sup> xuôi xuống sâu 10mm.</p>
<p>3. Châm hai kim cân nhau ở khe cơ gữa hai vai chếch ra ngoài 15<sup>o </sup>sâu 10mm</p>
<p>4. Châm 4 kim cân nhau bên khe hai  đốt sống cổ D1 và D2 từ bờ cột sống ra 2,5 – 3cm chếch xuống 15<sup>o</sup> và sâu 10mm lưu kim 45 phút.</p>
<p>Châm như vậy cơ cổ sẽ được tưới máu năng lượng xung mãn, động mạch sau cổ được mở rộng thêm , máu cung cấp lên hố chẩm đầy đủ ngay.</p>
<p>Có thể kết hợp châm một số huyệt khác để chống nhưc đầu, chóng mặt do thiếu máu não như: Ấn Đường, Thái Dương, Tứ Thần Thông.</p>
<p>Có thể châm thêm một số huyệt khác chữa các bệnh về mắt như: Tỉnh Minh, Toản Trúc, Đồng Tử Tiêu và một số điểm khác trên mắt để cải thiện dinh dưỡng xung quanh mắt.</p>
<p>Có thể châm thêm các huyệt ở vai và tay để chữa đau vai và tê tay như: Kiên Liêu, Nội Quan, Âm Khich, Bát Tà, Thập Tuyên để chống tê ngón tay và bàn tay. (Chú ý, khi kết hợp cần chọn kỹ theo mục đích điều trị).</p>
<p>Trên nguyên tắc phục hồi đốt sống cổ, chúng ta có thể thu hút năng lượng để phục hồi bất cứ cơ và xương nào có tình trạng thiếu máu cục bộ gây thoái hóa cơ và thoái hóa xương.</p>
<p>Trong phương pháp châm cứu phục hồi cơ và xương, nghiêm cấm không được châm ‘chay’ đơn thuần và liên tục không dùng thuốc, vì như vậy sẽ làm cho cơ và thần kinh bị tổn hao nặng nề, bệnh dần trở nên trầm trọng dẫn đến không thể phục hồi được.</p>
<h2>2. Ứng dụng phản ứng tự vệ (phản vệ) để điều năng lượng theo yêu cầu trong cấp cứu</h2>
<h3><em><span style="text-decoration: underline;">Ví d</span></em><em><span style="text-decoration: underline;">ụ 2:</span></em> Người bệnh bị cao huyết áp, cơn tăng dị ứng lên đến 270mm thủy ngân</h3>
<p>Trường hợp xảy ra đối với bệnh nhân Lan, 80 tuổi, ở Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội.</p>
<p>Trước hết phải để bệnh nhân nằm bất động trên giường, dùng kim châm cứu hay kim tiêm châm mạnh vào hai đầu ngón chân cái và các ngón chân khác tiếp theo, lưu kim 3 đến 5 phút rồi rút mạnh kim ra để máu chảy tự do không bịt lỗ kim. Tình trạng cao huyết áp sẽ hết ngay sau khi rút kim, bệnh nhân được giải thoát khỏi nguy cơ tai biến não. Sau đó uống thuốc để đảm bảo an toàn. Hiện nay, bệnh nhân bình thường và khỏe mạnh. Trường hợp châm cứu này được chính con gái bà Lan thực hiện bằng hướng dẫn qua điện thoại.</p>
<p>Chú ý, trường hợp tương tự như vậy nếu châm kim vào huyệt Nhân Trung, Tố Liêu sẽ xảy ra nhồi máu não và chết ngay do tai biến.</p>
<h3><em><span style="text-decoration: underline;">Ví d</span></em><em><span style="text-decoration: underline;">ụ 3:</span></em> Bệnh co mạch ngoại vi tăng huyết áp trung tâm, não thiếu máu trầm trọng và có nguy cơ vỡ tim</h3>
<p>Tình trạng này giống với mô tả bệnh của cha Padre Montanelli trong tiểu thuyết ‘Ruồi Trâu’ và cha Ralph de Bricassart trong tiểu thuyết ‘Tiếng chim hót trong bụi mận gai’, đây cũng là bệnh cảng của bệnh nhân Nguyễn Trọng Lảo, 47 tuổi ở thông Lỗ Xá, xã Nhân Hòa, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, bị hôn mê khi con gái uống thuốc chuột tự tử. Bệnh nhân ngã vật trong tang lễ con gái, hôn mê sâu, huyết áp động mạch lên đến 180mm thủy ngân, trán lạnh, chân tay lạnh, mạch thốn cả tả hữu đều mờ khó bắt. Bản gia được mời đến cấp cứu khi các bác sĩ đã bất lực và nghi nghờ đứt mạch máu não.</p>
<p>Thực chất bệnh nhân đã bị thiếu máu não trầm trọng và mạch ngoại vi tuần hoàn bị đình chỉ do co thắt. Trường hợp này, đầu tiên dùng kim nhỏ châm mạnh và đau vào 3 huyệt Nhân Trung, Tố Liêu và Thừa Tương, lập tức bệnh nhân tỉnh và kêu to: “tại sao các ông trói chân tay tôi” (vì chân tay chưa nhấc lên được). Sau đó vài phút dùng kim châm nhỏ châm mạnh và đau vào các huyệt Thập Tuyên ở đầu ngón tay và đầu ngón chân, lập tức tình trạng bị trói buộc được giải thoát, sau ít phút, bác sĩ đo lại huyết áp thấy trở về bình thường 115/70mm thủy ngân. Bệnh nhân đã được cứu thoát chết do không bị vỡ tim và không thiếu máu não nữa.</p>
<p>Bệnh nhân Lảo đã được uống thuốc theo phương Kỳ Môn Y Pháp để không bị lặp lại tình trạng mẫn cảm trên. Hiện nay còn sống khỏe mạnh nhưng bị điếc.</p>
<p>Thần châm có tác dụng rất phong phú và được ứng dụng đa dạng phối hợp với thuốc uống chữa được nhiều bệnh phức tạp và hiểm nghèo như:</p>
<p>-          Chống rối loạn nhu động ruột dẫn tới rối ruột hoặc lồng ruột.</p>
<p>-          Chống cơn đau quặn thận, giải thoát sỏi niệu quản có thể gây vỡ thận, giãn thận.</p>
<p>-          Chống cơn đau co thăt do đau dạ dày.</p>
<p>-          Chống cơn đau co thắt cơ tim do thiếu máu cơ tim.</p>
<p>-          Chống cơn he phế quản do co thắt phế quản.</p>
<p>-          Chống cơn đau co thắt do sỏi mật và giun chui ống mật.</p>
<p>-          Chống co thăt gây hẹp động mạch sau cổ gây rối loạn tiền đình, nguy cơ nhũn não, và nhiều triệu chứng nguy hiểm khác.</p>
<p>-          Chống đau sưng một khớp và phù nề khớp.</p>
<p>-          Chống co thắt cơ lưng, thái cơ lưng, thoái hóa xương đốt sống, thần kinh tọa, thoát vị đĩa đệm.</p>
<p>-          Chống viêm họng lâu ngày dùng kháng sinh không khỏi.</p>
<p>-          Chống bướu cổ đơn thuần do rối loạn chuyển hóa Iốt.</p>
<p>-          Cứu thoát tình trạng đau mắt đỏ và khô giác mạc.</p>
<p>-          Chống viêm tắc động mạch và tĩnh mạch</p>
<p>-          …</p>
<p>Ứng dụng của Thần châm thật phong phú và đa dạng khi được phối hợp với dùng thuốc đúng phương sẽ góp phần chữa khỏi các bệnh khó mãn tính dài ngày và nhiều bệnh hiểm nghèo, tránh cho bệnh nhân khỏi các ca phẫu thuật nguy hiểm.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=95</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nam Y</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=86</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=86#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 29 Apr 2010 10:24:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Cơ sở lý luận]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=86</guid>
		<description><![CDATA[Nam Y là văn hóa chữa bệnh của các dân tộc Việt Nam. Cũng tương đồng với mọi nền văn hóa chữa bệnh khác, Nam Y bắt đầu được xây dựng từ nền y học dân gian Việt Nam.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Nam Y là văn hóa chữa bệnh của các dân tộc Việt Nam. Cũng tương đồng với mọi nền văn hóa chữa bệnh khác, Nam Y bắt đầu được xây dựng từ nền y học dân gian Việt Nam.</p>
<p>Các dân tộc Việt Nam từ hàng ngàn năm trước cư trú trên một vùng lãnh thổ rộng lớn – đất của vua Hùng ở Nam Giao. Đất ấy Bắc giáp Ba Thục, tức Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay<em> (Theo Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn)</em>, đất ấy kéo dài mãi về phía Nam đến Giao Chỉ mới kết lại thành châu thổ rộng lớn.</p>
<p>Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, xây dựng hoàng đồ, đế nghiệp của dân tộc trải dài trên một vùng lãnh thổ có nhiều tài nguyên thiên nhiên và rất đa dạng sinh học. Động thực vật từ nhiều miền lãnh thổ khác nhau di cư và quần tụ tại đất này qua sự thay đổi biến động của thời tiết gió mùa và địa hình địa lý. Điển hình là hệ động thực vật từ Hoa Nam đi theo các dòng sông Hồng Hà, Cửu Long (Mêkông) và gió mùa Đông Bắc; hệ động thực vật từ Ấn Độ và Malaysia theo đất, nước và gió mùa Tây Nam giao thoa với động thực vật đặc hữu bản địa làm cho Việt Nam có rất nhiều loài động thực vật cư trú và sinh sống từ vùng đồng bằng châu thổ đến các vùng núi cao. Với hàng nghìn cây số bờ biển tiếp giáp với biển và đại dương có nhiều loài động thực vật biển và ven biển. Chính vì vậy mà thiên nhiên đã mang lại cho dân tộc Việt Nam nguồn động thực vật làm dược liệu vô cùng phong phú.</p>
<p>Các dân tộc Việt Nam sống trên các vùng tiểu khí hậu khác nhau, thích nghi khác nhau theo kinh nghiệm bản thân, gia truyền và dân gian đã tìm cho mình các loại cây con khác nhau để chữa bệnh. Những kinh nghiệm ấy đã được tổng hợp và đúc rút thành kho tàng y học dân gian, y học dân tộc vô cùng phong phú. Có 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, thì dân tộc nào cũng có một nền văn hóa chữa bệnh đặc sắc riêng của mình. Mỗi bước đi của chúng ta trên mọi vùng miền đều có thể bắt gặp các cây thuốc và con vật làm thuốc.</p>
<p>Chính sự phong phú về các hệ động thực vật trên đất nước Việt Nam trong quá trình lịch sử đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước của cha ông ta, với kinh nghiệm y học dân gian phong phú và truyền thống y học dân tộc đầy bản sắc, tất cả các yếu tố ấy đã tạo ra nền văn hóa phòng bệnh và chữa bệnh thuần Việt được gọi là Nam Y.</p>
<p>Theo truyền thuyết dân gian thì ông tổ đầu tiên của Nam Y chính là Chử Đồng Tử, một vị Thánh trong “Tứ bất tử” của dân tộc Việt Nam. Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung và công chúa Tây Sa là những thầy thuốc có tài đã dùng thuốc Nam chữa bệnh và chống dịch cho dân, đồng thời đã chữa bệnh cho cả vua Hùng. Cho đến nay, đền thờ Chử Đồng Tử được xây dựng ở nhiều nơi bên đầm Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.</p>
<p>Từ thời các vua Hùng dựng nước cho đến thời Lý – Trần, Nam Y đã trở thành một nền y khoa mạnh vào bậc nhất thế giới đảm nhận được trọng trách hậu cần chữa trị các bệnh do thương đao, cháy nổ, dịch bệnh và thảm họa chiến tranh cho ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên đại thắng.</p>
<p>Ông tổ thứ hai của Nam Y là Nguyễn Bá Tĩnh – Tuệ Tĩnh (1330 – 1400) với hai trước tác còn lại đến nay là <em>“Hồng nghĩa giác tư y thư”</em> và <em>“Nam dược thần hiệu”</em> và câu nói nổi tiếng:</p>
<p style="text-align: center;"><em>“Tôi tiên sư kính đạo tiên sư<br />
Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt”</em></p>
<p>Theo truyền thuyết, vì giỏi nghề thuốc nên Tuệ Tĩnh bị cống sang triều Minh, Trung Quốc. Ông đã chữa bệnh cho nội cung triều Minh và quan lại Trung Quốc và mất ở đó. Hiện nay còn nhiều đền thờ Tuệ Tĩnh ở nhiều nơi: Đền thờ đầu tiên thờ ông là ở An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng và Đền Bia ở Cẩm Giàng, Hải Dương.</p>
<p>Ông tổ Nam Y thứ ba có thể nhắc tới là Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi. Người thầy thuốc Tây học xuất sắc đã bắc chiếc cầu lớn nối dược học Việt Nam vào nền dược học hiện đại bằng tác phẩm <em>“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”,</em> được Hội đồng Khoa học tối cao Liên Xô (Nga) công nhận học vị Tiến sĩ khoa học năm 1968 và được đánh giá là một trong 7 viên ngọc quý của triển lãm sách quốc tế tại Matxcova năm 1983. Cuốn sách này cũng được Nhà nước trao tặng giải thưởng cao quý nhất của Việt Nam – Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật năm 1996.</p>
<p>Hơn 4000 năm lịch sử tính từ thời các vua Hùng dựng nước, giữ nước chống giặc ngoại xâm Ân, Thương, Đông Hán, Nam Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… đến chống đế quốc Nhật, Pháp, Mỹ và đến nay Nam Y vẫn giữ vai trò chủ chốt trong việc bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Hiện nay, bộ Y Tế chủ trương nêu cao khẩu hiệu: <em>“Thầy tại nhà, thuốc tại vườn”</em> để bảo vệ sức khỏe toàn dân.</p>
<p>Nam Y từ thời Tuệ Tĩnh đã bắt đầu tiếp thu tinh hoa Trung Y và đến hiện nay lại được tiếp thu tinh hoa của nền y học hiện đại. Lâu đài kỹ vĩ lung linh đầy châu ngọc của nền y học dân tộc Việt Nam được tiếp thu tinh hoa y học thế giới, với ánh sáng rực rỡ của y học hiện đại – Nam Y sẽ trở thành “cây đèn thần” trong tay các thầy thuốc Việt Nam.</p>
<p>Với nền Nam Y hiện đại, chúng ta có thể giải quyết rất nhiều bệnh tật có liên quan đến chuyển hóa cơ bản vật chất và biến đổi do ô nhiễm nội môi theo quy luật bảo toàn năng lượng và quy luật biến đổi sinh học để giúp người bệnh, đặc biệt là những người mắc bệnh hiểm nghèo khỏi bệnh và có lại sức khỏe bình thường.</p>
<p>Tất cả các nền y học trên thế giới Tây Y và Trung Y đều có bốn điểm tương đồng:<br />
– Y đạo<br />
– Y lý<br />
– Y pháp<br />
– Y thuật</p>
<p>Y đạo và Y lý là hai điểm hỗ trợ và tiếp thu của các nền văn hóa y khoa khác để hoàn chỉnh cho Y đạo và Y lý của Nam Y. Chúng ta xây dựng Y pháp và Y thuật riêng để cùng với các nền y khoa khác bảo vệ sức khỏe cho nhân dân và bè bạn quốc tế trong thời đại hội nhập toàn cầu. Muốn làm được như vậy, các thầy thuốc Nam Y phải luôn nhớ lời dạy của sư tổ Tuệ Tĩnh, phải <em>“kính đạo tiên sư”</em> của tất các nền y khoa khác trên thế giới và đừng quên không ngừng nghiên cứu, ứng dụng và phát triển Y pháp, Y thuật Nam Y để góp sức vào công cuộc phòng và chữa bệnh cho dân ta và bạn bè quốc tế.</p>
<p>Khi đã thấm nhuần Y đạo của Nam Y, hiểu sâu sắc Y lý, vận dụng giỏi Y pháp và Y thuật, thầy thuốc Nam Y có thể tranh chấp cái sống chết với tử thần, có thể tranh chấp tuổi thọ với mệnh số, thỏa được lòng mong đợi của các y tổ ngàn đời là mong cho dân khỏi chết oan, chết uổng và chết non, chết yểu.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=86</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hướng nghiên cứu thuốc điều trị ung thư từ con cóc</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=79</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=79#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 20 Apr 2010 16:51:57 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thuốc Nam chữa bệnh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=79</guid>
		<description><![CDATA[Trải qua nhiều năm phát triển, thuốc có nguồn gốc tổng hợp hóa dược dần bộc lộ nhiều nhược điểm, gây nhiều tác dụng không mong muốn, dễ bị kháng thuốc. Đối với thuốc điều trị các bệnh ung thư, HIV/AIDS hay một số bệnh hiểm nghèo khác thì vấn đề về tác dụng không mong muốn luôn đồng hành, và chúng ta buộc phải chấp nhận.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>Trải qua nhiều năm phát triển, thuốc có nguồn gốc tổng hợp hóa dược dần bộc lộ nhiều nhược điểm, gây nhiều tác dụng không mong muốn, dễ bị kháng thuốc. Đối với thuốc điều trị các bệnh ung thư, HIV/AIDS hay một số bệnh hiểm nghèo khác thì vấn đề về tác dụng không mong muốn luôn đồng hành, và chúng ta buộc phải chấp nhận.</em></p>
<p><em>Khi cuộc sống con người được cải thiện, khoa học phát triển, chúng ta phải được sử dụng thuốc hiệu quả nhất và an toàn nhất, đó là nguyện vọng chính đáng. Thuốc y học cổ truyền với tính an toàn cao được kiểm chứng qua hàng ngàn năm sử dụng. Do đó, hướng nghiên cứu thuốc mới có nguồn gốc y học cổ truyền đang được nhiều quốc gia quan tâm. Ví dụ như Vincristin và Vinblastin – alcaloid chiết từ cây Dừa cạn </em>Vinca rosea<em> là thuốc điển hình điều trị ưng thư (bệnh Hodgkin, bệnh sarcom lympho và sarcom lưới, u tủy mãn tính…) có nguồn gốc tự nhiên được công nhận trên toàn thế giới về hiệu quả điều trị cũng như là an toàn ở liều cho phép. Mới đây chúng ta thấy thông tin về một số sản phẩm từ cóc Việt Nam, Trung Quốc có hiệu quả trong điều trị ung thư. Chúng ta đều biết rằng cóc là loài có độc, nhiều trường hợp ngộ độc vì ăn cóc chưa làm sạch. Vì vậy dưới đây là tổng quan các nghiên cứu về cóc để bạn đọc cùng đánh giá.</em></p>
<h2>I. Giới thiệu.</h2>
<p>Họ Cóc <em>(Bufonidae)</em> có 529 loài<a href="http://research.amnh.org/vz/herpetology/amphibia/index.php"><sup>[1]</sup></a>, theo các nghiên cứu đã được công bố thì trong số 529 loài có 16 loài có chất độc Bufotoxins <a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Bufotoxin"><sup>[2] </sup></a> (các chất độc trong nhựa ở da và tuyến mang tai)</p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td width="302" valign="top">1.   Bufo alvarius (Girard in Baird, 1859) hay Incillius alvarius (Frost, 2008).</p>
<p>Được   tìm thấy ở tây nam nước Mỹ và bắc Mexico, kích thước từ 10-17cm</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_alvarius.jpg" title="Bufo alvarius" class="shutterset_singlepic36" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=36&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo alvarius" title="Bufo alvarius" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">2.   Bufo americanus (Holbrook, 1836) hay Anaxyrus amercanus (Frost et al, 2006)</p>
<p>Phân   bố chủ yếu ở miền Đông nước Mỹ và Canada.Kích thước từ 5 -9cm.</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_americanus.jpg" title="Bufo americanus" class="shutterset_singlepic37" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=37&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo americanus" title="Bufo americanus" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">3.   Bufo arenarum (Hensel 1867).</p>
<p>Được   tìm thấy ở Argentina, Bolivia, Uruguay, Brazil, Paraguay</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_arenarum.jpg" title="Bufo arenarum" class="shutterset_singlepic39" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=39&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo arenarum" title="Bufo arenarum" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">4.   Bufo asper (Gravenhorst, 1829)</p>
<p>Là   một loài cóc lớn ở Đông Á, kích thước có thể đến 22cm.</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo-asper.jpg" title="Bufo asper" class="shutterset_singlepic33" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=33&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo asper" title="Bufo asper" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">5.   Bufo blombergi (Myers &amp; Funkhouser, 1951)</p>
<p>Được   tìm thấy ở Ecuador và Colombia</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_blombergi.jpg" title="Bufo Blombergi" class="shutterset_singlepic49" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=49&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo Blombergi" title="Bufo Blombergi" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">6.   Bufo bufo (Linnaerus, 1758).</p>
<p>Phân   bố khắp châu Âu trừ Ireland và vùng Địa Trung Hải, kích thước có thể đến   18cm.</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_Bufo.jpg" title="Bufo Bufo" class="shutterset_singlepic35" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=35&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo Bufo" title="Bufo Bufo" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">7.   Bufo bufo gargarizans (Cantor, 1842) hay Bufo gargarizans.</p>
<p>Phân   bố chủ yếu ở Trung Quốc, cũng có ở một số vùng ở Nhật Bản và Hàn Quốc</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_gargarizans.jpg" title="Bufo gargarizans" class="shutterset_singlepic40" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=40&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo gargarizans" title="Bufo gargarizans" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">8.   Bufo formosus hay Bufo vulgaris, Bufo japonicus (Boulenger, 1883) .</p>
<p>Là   loài cóc đặc hữu của Nhật Bản</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_japonicus.jpg" title="Bufo japonicus" class="shutterset_singlepic41" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=41&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo japonicus" title="Bufo japonicus" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">9. Bufo flowleri (Hinckley, 1882) hay Anaxyrus   flowleri.</p>
<p>Thường   tìm thấy ở vùng duyên hải Đại Tây Dương, kích thước 5-9cm.</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_fowleri.jpg" title="Bufo Fowleri" class="shutterset_singlepic50" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=50&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo Fowleri" title="Bufo Fowleri" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">10.   Bufo marinus (Linnaeus, 1758).</p>
<p>Là loài cóc lớn ở Trung và Nam Mỹ</p>
<p>Kích thước trung bình 15-19cm, con lớn nhất phát   hiện được có khối lượng 2,5kg, dài 38cm.</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_marinus_from_Australia.jpg" title="Bufo marinus Australia" class="shutterset_singlepic42" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=42&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo marinus Australia" title="Bufo marinus Australia" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">11. Bufo melanostictus (Schneider, 1799) hay Duttaphynus   melanostictus.</p>
<p>Được tìm thấy ở Ấn Độ, phân bố chủ yếu ở Nam Á (Việt   Nam, Lào, Ấn Độ&#8230;)</p>
<p>Chiều dài có thể đến 20cm.</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/linh-dan-thiem-o-chau/bufo-melanostictus-01.JPG" title="Con cóc Việt Nam" class="shutterset_singlepic29" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=29&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo melanostictus" title="Bufo melanostictus" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">12.   Bufo peltocephalus (Tschudi, 1838).</p>
<p>Là loài cóc đặc hữu của Cuba</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_peltocephalus_cuba.jpg" title="Bufo Peltocephalus Cuba" class="shutterset_singlepic48" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=48&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo Peltocephalus Cuba" title="Bufo Peltocephalus Cuba" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">13. Bufo quercius (Holbrook,1840) hay Annaxyrus   quercicus.</p>
<p>Là   loài cóc đặc hữu của vùng duyên hải miền Đông nam nước Mỹ. Chiều dài từ   13-19mm.</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_quercicus-Annaxyrus-quercicus.jpg" title="Bufo quercicus" class="shutterset_singlepic44" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=44&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo quercicus, Annaxyrus quercicus" title="Bufo quercicus, Annaxyrus quercicus" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">14. Bufo regularis (Reuss, 1833) hay Amietophrynus regularis.</p>
<p>Phân   bố ở châu Phi.</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo-regularis-Reuss-1833-Amietophrynus-regularis.jpg" title="Bufo regularis" class="shutterset_singlepic34" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=34&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo regularis (Reuss 1833) Amietophrynus regularis" title="Bufo regularis (Reuss 1833) Amietophrynus regularis" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">15. Bufo valliceps (Weignann, 1833) hay Incillius valliceps.</p>
<p>Là   loài cóc bản địa của miền Nam nước Mỹ (Texas, Lusiana), Mexixo, Trung Mỹ và   Costa Rica.</td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_valliceps.jpg" title="Bufo valliceps" class="shutterset_singlepic45" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=45&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo valliceps" title="Bufo valliceps" />
</a>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="302" valign="top">16.   Bufo viridis (Laurenti, 1768).</p>
<p>Thường   gọi là Cóc xanh châu Âu, phân bố ở châu Âu, một số vùng ở châu Á và Bắc phi.</p>
<p>Chiều   dài thân trung bình 15cm.<em> </em></td>
<td width="315" valign="top">
<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/bufonidae-bufotoxins/Bufo_viridis_female_quadrat.jpg" title="Bufo viridis" class="shutterset_singlepic46" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-left" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=46&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo viridis female quadrat" title="Bufo viridis female quadrat" />
</a>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><em> </em></p>
<h2>II. Những nghiên cứu khoa học về Cóc và các sản phẩm từ cóc ở Việt Nam và thế giới.</h2>
<h2>1.      Nghiên cứu về thành phần hóa học.</h2>
<p>Theo nghiên cứu của Viện Vệ sinh Hà Nội (7/1961 và 3/1962): thịt cóc chứa 53,37% protid, 12,66% lipid, rất nhiều glucid, 23,56% tro và 4,18% độ ẩm. Trong protid có nhiều acid amin có giá trị: asparagin, histidin, a.glutamic, glycocol, threoin, a,aminobutyric, tyrosin, methionin, leucin, isoleucin, phenylamin, tryptophan, cystein.</p>
<p>Năm 1963-1964, DS. Đào Kim Long khi đó là sinh viên năm 3 trường Đại học Dược Hà Nội.Với sự giúp đỡ của các chuyên gia đầu ngành khi ấy, DS. Đào Kim Long đã xác định tên khoa học của loài cóc thường thấy ở Việt nam là <em>Bufo melanostictus</em>, đó là mốc đánh dấu bước phát triển mới trong nghiên cứu cóc ở Việt Nam, cũng trong thời gian tiếp theo, DS. Đào Kim Long đã tiến hành một số nghiên cứu khác như cơ chế tiết nhựa, tính độc của nhựa cóc trên các loài 2 chân, 4 chân… chưa có nghiên cứu nào về thành thành phần hóa học trong nhựa cóc.</p>
<p>Năm 1973, nhóm nghiên cứu do TS. Phan Quốc Kinh làm chủ đề tài đã nghiên cứu về thành phần hóa học nhựa cóc Việt Nam – <em>Bufo melanostictus</em> , chủ yếu là về các chất có cấu trúc nhân Sterol. Trong báo cáo về các hợp chất nhân Sterol năm 1979 ở Thụy Sĩ<sup> </sup><a href="http://www.ncbi.nlm.nih.gov/sites/entrez"><sup>[3]</sup></a> , TS Phan Quốc Kinh xác định trong nhựa cóc có resibugigenin, bufotalin, 19-hydroxy bufalin và nhiều bufadienolids khác, trong đó 19-hydroxy bufalin là thành phần chính. Đây là điểm khác biệt so với cóc Trung Quốc – <em>Bufo bufo gargarizans</em> (trong nhựa có chứa cinobufagin là thành phần chính)</p>
<p>Năm 1975, Trần Tích và cộng sự đã phân tích trong thịt cóc có hàm lượng Mn và Zn khá cao, hơn hẳn so với một số thịt khác như ếch, gà, bò và lợn.</p>
<p>Trong năm 2009 vừa qua, nhóm nghiên cứu (Phan Quốc Kinh, Hà Huy Kế, Đào Kim Long, Đào Anh Hoàng) đã định tính và định lượng 1 số kim loại nặng: As, Ba, Bi, Cu, Mn, Pb, Se, Tl, Zn, Hg có trong từng bộ phận của cóc Việt Nam <em>- Bufo melanostictus</em> bằng phương pháp quang phổ phát xạ nguyên tử.</p>
<table border="1" cellspacing="0" cellpadding="0" width="621">
<tbody>
<tr>
<td rowspan="2" width="55">STT</td>
<td rowspan="2" width="88">NGUYÊN TỐ</td>
<td colspan="7" width="479">BỘ PHẬN</td>
</tr>
<tr>
<td width="63" valign="top">Da</td>
<td width="65" valign="top">Đầu</td>
<td width="65" valign="top">Gan</td>
<td width="69" valign="top">Nhựa</td>
<td width="76" valign="top">Thịt và Xương</td>
<td width="73" valign="top">Bàn tay, chân</td>
<td width="67" valign="top">Trứng</td>
</tr>
<tr>
<td width="55" valign="top">1</td>
<td width="88" valign="top">As</td>
<td width="63" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="65" valign="top">++</td>
<td width="65" valign="top">+</td>
<td width="69" valign="top">+++</td>
<td width="76" valign="top">+</td>
<td width="73" valign="top">++</td>
<td width="67" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
</tr>
<tr>
<td width="55" valign="top">2</td>
<td width="88" valign="top">Ba</td>
<td width="63" valign="top">+</td>
<td width="65" valign="top">+++</td>
<td width="65" valign="top">++</td>
<td width="69" valign="top">+++</td>
<td width="76" valign="top">++</td>
<td width="73" valign="top">++</td>
<td width="67" valign="top">+</td>
</tr>
<tr>
<td width="55" valign="top">3</td>
<td width="88" valign="top">Bi</td>
<td width="63" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="65" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="65" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="69" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="76" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="73" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="67" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
</tr>
<tr>
<td width="55" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">4</span></td>
<td width="88" valign="top">Cu</td>
<td width="63" valign="top">+</td>
<td width="65" valign="top">+++</td>
<td width="65" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="69" valign="top">+</td>
<td width="76" valign="top">+</td>
<td width="73" valign="top">+</td>
<td width="67" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
</tr>
<tr>
<td width="55" valign="top">5</td>
<td width="88" valign="top">Mn</td>
<td width="63" valign="top">+</td>
<td width="65" valign="top">+</td>
<td width="65" valign="top">+</td>
<td width="69" valign="top">+</td>
<td width="76" valign="top">+</td>
<td width="73" valign="top">+</td>
<td width="67" valign="top">+</td>
</tr>
<tr>
<td width="55" valign="top">6</td>
<td width="88" valign="top">Pb</td>
<td width="63" valign="top">+++</td>
<td width="65" valign="top">++</td>
<td width="65" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="69" valign="top">+</td>
<td width="76" valign="top">+</td>
<td width="73" valign="top">+</td>
<td width="67" valign="top">+++</td>
</tr>
<tr>
<td width="55" valign="top">7</td>
<td width="88" valign="top">Se</td>
<td width="63" valign="top">+</td>
<td width="65" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="65" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="69" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="76" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="73" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="67" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
</tr>
<tr>
<td width="55" valign="top">8</td>
<td width="88" valign="top">Tl</td>
<td width="63" valign="top">+</td>
<td width="65" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="65" valign="top">+</td>
<td width="69" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="76" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="73" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="67" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
</tr>
<tr>
<td width="55" valign="top">9</td>
<td width="88" valign="top">Zn</td>
<td width="63" valign="top">+</td>
<td width="65" valign="top">+</td>
<td width="65" valign="top">++</td>
<td width="69" valign="top">+++</td>
<td width="76" valign="top">+</td>
<td width="73" valign="top">++</td>
<td width="67" valign="top">++</td>
</tr>
<tr>
<td width="55" valign="top">10</td>
<td width="88" valign="top">Hg</td>
<td width="63" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="65" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="65" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="69" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="76" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
<td width="73" valign="top">+</td>
<td width="67" valign="top"><span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><span style="text-decoration: underline;"> </span></p>
<p><span style="text-decoration: underline;">Chú thích:</span></p>
<p>(+), (++), (+++): <em>mối tương quan hàm lượng nguyên tố cần tìm trong các mẫu.</em></p>
<p>(<span style="text-decoration: line-through;">&#8211;</span>)<em>: nguyên tố cần tìm không có trong mẫu</em></p>
<h2>2.      Nghiên cứu sử dụng Cóc và các chế phẩm từ Cóc trong điều trị và hỗ trợ điều trị Ung thư.</h2>
<p>Việc sử dụng sản phẩm Huachansu<a href="file:///D:/hoc%20tap/DUOC%20LIEU/caythuocvn/treating%20cancer%20with%20toad%20venom/Huachansu-may-slow-cancer-progression.aspx.htm"><sup>[4]</sup></a> – chiết từ nhựa cóc <em>Bufo bufo gargarizans</em> – rất phổ biến ở Trung Quốc cho điều trị ung thư gan, mật, tụy, phổi, ruột kết. Gần đây có nghiên cứu về hiệu quả của Huachansu trên bệnh nhân ung thư tụy, gan, phổi thực hiện từ 9/2005 đến 8/2009 bởi Trung tâm ung thư M.D. Anderson, Đại học Texas và Bệnh viện Ung thư thuộc Đại học Fudan ở Thượng Hải, Trung Quốc, thử nghiệm này chia làm 2 giai đoạn:</p>
<p><span style="text-decoration: underline;">Giai đoạn 1</span>: từ 1/2005 đến 7/2006</p>
<p>Thử nghiệm tiến hành trên 15 bệnh nhân mắc ung thư tụy, phổi, biểu mô tế bào gan giai đoạn III và IV, được tiêm một trong 5 liều khác nhau Huachansu. Một chu kì điều trị gồm 14 ngày dùng thuốc liên tục và 7 ngày nghỉ. Liều có thể nâng cao gấp 8 lần bình thường nhưng cũng không thấy trường hợp nào bị ngộ độc, không thấy có sự thay đổi đáng kể nào về triệu chứng liên quan đến ung thư xảy ra.Trong số 15 bệnh nhân có 6 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (40%) có tình trạng ổn định trong 6 tháng; có 1 bệnh nhân có kích thược khối u giảm 20% và ổn định trong 11 tháng</p>
<p><span style="text-decoration: underline;">Giai đoạn 2</span>: Thử hiệu quả và an toàn khi sử dụng phối hợp Huachansu với gencitabin-oxaliplatin với bệnh nhân bị ung thư tụy.</p>
<p>Một nghiên cứu khác về hiệu quả và an toàn khi sử dụng Huachansu<a href="http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/18777599"><sup>[6]</sup></a> kết hợp với gemcitabin – oxaliplatin trong điều trị bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tiến triển đã được công bố 7/2008: thử nghiệm trên 25 bệnh nhân (42-78 tuổi), mỗi bệnh nhân nhận được trung bình 5 liệu trình điều trị, trong 25 bệnh nhân có 23 bệnh nhân được đánh giá kết quả (có 8 bệnh nhân có đáp ứng 1 phần và 7 bệnh nhân được chứng minh có tình trạng ổn định, ung thư tiến triển trong 8 bệnh nhân còn lại). Độc tính chủ yếu là giảm bạch cầu, tiểu cầu, không thấy độc trên hồng cầu, không có trường hợp bào chết do độc tính, chất lượng cuộc sống bệnh nhân được cải thiện hơn.</p>
<p>Một báo cáo mới nhất công bố tháng 3 năm 2010<a href="http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20193751"><sup>[5]</sup></a> về tác dụng của cinobufagin-  <em>bufadienolid chính trong nhựa cóc Trung Quốc Bufo bufo gargarizans</em> làm ức chế sự phát triển của khối ung thư do có tác dụng lên quá trình “cái chết tế bào qua trung gian ty thể”. Theo báo cáo này, cinobufagin có tác dụng ức chế quá trình kéo dài thời gian sống của tế bào và kích thích con đường “cái chết tế bào” bằng cơ chế tăng giải phóng cytocrome c – enzyme có vai trò quan trong của các phản ứng oxy hóa khử trong cơ thể, khử các gốc tự do. Cytocrome c được giải phóng sẽ hoạt hóa capsase 9 và capsase 3 có vai trò quan trọng trong “con đường cái chết tế bào qua trung gian ty thể”.</p>
<p>Ở Việt Nam chưa có báo cáo nào về tác dụng điều trị , hỗ trợ điều trị ung thư của các sản phẩm có nguồn gốc từ cóc Viêt Nam <em>Bufo melanostictus.</em></p>
<p>Dân gian hay truyền nhau cách làm giảm khối U ở da bằng cách cứu ngải với da cóc: dùng điếu ngải lên miếng da cóc vừa bóc từ con cóc khỏe mạnh úp lên mặt khối u; chầm chậm di điếu ngải lên bề mặt khối u, đến khi miếng da khô cong là được, sau mỗi lần cứu da cóc thì khối u lại nhỏ đi một chút. <em>(Nam dược thần hiệu)</em></p>
<p>Một bài chữa thũng độc <em>(Nam dược thần hiệu):</em> dùng cóc 1 con, chặt nát, vôi đá đập nát sao vàng, hai thứ cùng giã nát như bùn mà đắp vào, khô lại thay đến khi tiêu hết mới thôi.</p>
<p>Sản phẩm mới nhất làm từ cóc dùng để hỗ trợ điều trị ung thư ở Việt Nam hiện nay là Linh Đan Thiềm ô châu<sup>[6]</sup> <em>(nguyên liệu là cóc cả con, được luyện theo phương pháp bí truyền tạo thành linh đan – những viên ngọc màu đen)</em> của cơ sơ Nam Y Đạo Pháp <em>–</em> DS. Lương y Đào Kim Long. Linh đan Thiềm ô châu đã được sử dụng kết hợp với các vị thuốc Nam từ nhiều năm nay và cho kết quả rất tốt trong điều trị nhiều bệnh ung thư <em>(ung thư phổi, ung thư gan, ung thư vòm họng, ung thu trực tràng, ung thư tuyến giáp, ung thư vú, ung thư tử cung,các bệnh bạch cầu cấp tính mãn tính dòng L và dòng M, bệnh suy tiểu cầu…) </em>và chưa thấy trường hợp nào bị ngộ độc.<em> </em></p>
<p>Nghiên cứu cho thấy trong Thiềm ô châu có hàm lượng đáng kể Selen và Kẽm – hai nguyên tố vi lượng có vai trò nâng cao chức năng của hệ miễn dịch. Dịch cồn chiết từ Linh đan Thiềm ô châu phát quang vàng dưới ánh sáng tử ngoại UV 254nm. Đặc biệt hơn, khi thử độc tính trên chuột nhắt trắng đã không tìm được liều LD<sub>50</sub>, vì thực tế không tìm được liều chết. Kết quả này thực sự bất ngờ vì Linh đan Thiềm ô châu được chế từ nguyên con Cóc – <em>Bufo melanostictus</em>, một loài cóc có nhiều chất độc. Trên thực tế có rất nhiều trường hợp ngộ độc sau khi ăn gan, mât, da cóc<sup>[7]</sup>. Kết quả này một lần nữa khẳng định, thuốc chế theo những phương thức cổ truyền rất an toàn.</p>
<p><em>Từ các kết quả trên cho thấy, con cóc Trung Quốc và Việt Nam là 2 trong số 16 loài cóc độc nhưng Huachansu và Thiềm ô châu lại thực sự có hiệu quả và an toàn trong điều trị, hỗ trợ điều trị ung thư. Là người làm khoa học, chúng ta cần phải thừa nhận rằng Thiềm ô châu hay Huachansu là con đường mới trong điều trị ung thư. Tuy cùng đi từ con cóc nhưng chúng ta có thể nhận thấy rằng cóc Việt Nam – Bufo melanostictus và Trung Quốc Bufo bufo gargarizans là hai loài khác nhau, có thành phần Bufadienolides khác nhau. Linh đan Thiềm ô châu có thể là bước đi riêng và độc đáo của y khoa Việt Nam. Chúng ta nên tiến hành nhiều đề tài khoa học nghiên cứu và phát triển thuốc điều trị ung thư từ Cóc Việt Nam – Bufo melanostictus dựa trên những kết quả đã đạt được từ Linh đan Thiềm ô châu.</em></p>
<p><em> </em></p>
<h3>Bài viết có tham khảo một số tài liệu:</h3>
<p>[1]: Amphibian Species of the World 5.4, an Online Reference</p>
<p>[2]: http://en.wikipedia.org/wiki/Bufotoxin</p>
<p>[3] Chemical constituents of Vietnamese toad venom collected from Bufo melanostictus Schneider. Part I. The sterols.Verpoorte R, Phan-Quốc-Kinh, Svendsen AB.PMID: 542013</p>
<p>[4] http://www.news-medical.net/news/20090925/Huachansu-may-slow-cancer-progression.aspx</p>
<p>[5] Cinobufacini, an aqueous extract from Bufo bufo gargarizans Cantor, induces apoptosis through a mitochondria-mediated pathway in human hepatocellular carcinoma cells.</p>
<p>Qi F, Li A, Zhao L, Xu H, Inagaki Y, Wang D, Cui X, Gao B, Kokudo N, Nakata M, Tang W.</p>
<p>[6] Efficacy and safety of gemcitabine-oxaliplatin combined with huachansu in patients with advanced gallbladder carcinoma.</p>
<p>Qin TJ, Zhao XH, Yun J, Zhang LX, Ruan ZP, Pan BR.</p>
<p>Department of Medical Oncology, First Affiliated Hospital of Medical School of Xi&#8217;an Jiaotong University, Xi&#8217;an 710061, Shaanxi Province, China.</p>
<p>[7] Báo cây thuốc quý số 135 trang 8,9 và 32.</p>
<p style="text-align: right;">Nam Y Đạo Pháp biên tập và tổng hợp</p>
<p style="text-align: right;">Hà Nội, 4/2010</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=79</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Linh đan Thiềm Ô Châu</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=74</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=74#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 20 Apr 2010 16:35:49 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thuốc Nam chữa bệnh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=74</guid>
		<description><![CDATA[Thiềm Ô Châu là sản phẩm cổ hàng ngàn năm được lưu giữ và bí truyền ở một số dòng y khoa đất Việt. Thiềm Ô Châu có nghĩa là ngọc màu đen của con cóc được tiên luyện từ con cóc Việt Nam có tên khoa học là Bufo melanostictus họ cóc Bufonidae. Linh đan Thiềm Ô Châu khi mới luyện xong là các hạt châu (ngọc đông tụ) mầu đen. Khi được tán nhỏ, dưới ánh sáng mặt trời có phản quang lấp lánh.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Thiềm Ô Châu là sản phẩm cổ hàng ngàn năm được lưu giữ và bí truyền ở một số dòng y khoa đất Việt. Thiềm Ô Châu có nghĩa là ngọc màu đen của con cóc được tiên luyện từ con cóc Việt Nam có tên khoa học là <em>Bufo melanostictus</em> họ cóc <em>Bufonidae</em>. Linh đan Thiềm Ô Châu khi mới luyện xong là các hạt châu (ngọc đông tụ) mầu đen. Khi được tán nhỏ, dưới ánh sáng mặt trời có phản quang lấp lánh.</p>
<p>Linh đan Thiềm Ô Châu được dùng như một loại thức ăn đặc biệt để bồi bổ cơ thể, nhất là trẻ em để tránh cam, sài, dịch bệnh, còi xương, suy dinh dưỡng. Thiềm Ô Châu còn được dùng như một vị thuốc để chống các bệnh hiểm nghèo với hình thức sử dụng đa dạng phong phú như:</p>
<ul>
<li>Thiềm Ô Châu phối hợp với một số cây cỏ đặc biệt để uống chữa âm, dương thư, chữa đa hạch, chữa các bệnh Nham, Lự, Anh (theo mô tả triệu chứng lâm sàng cổ).</li>
<li>Thiềm Ô Châu phối hợp với nhựa thông, sáp ong, dầu vừng và một số vị thuốc khác nấu thành cao để dán lên nhọt. Tùy gia giảm mà chúng là cao tan hay cao hút mủ.</li>
<li>Thiềm Ô Châu phối hợp với một số vị thuốc khác để chữa đậu mùa, ban sởi, chó dại cắn&#8230;v.v&#8230;</li>
</ul>

<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/linh-dan-thiem-o-chau/bufo-melanostictus-02.JPG" title="Con cóc Việt Nam" class="shutterset_singlepic30" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=30&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Bufo melanostictus 02" title="Bufo melanostictus 02" />
</a>

<p>Cơ sở Nam Y Đạo Pháp, là phòng chẩn trị Nam Y được đăng ký tại Sở Y Tế tỉnh Hưng Yên, được chân truyền phép tiên luyện từ rất lâu, gia truyền nhiều đời. Trước khi hành sự, Đạo trưởng phải ăn chay, tắm rửa, thề trước trời đất và sư tổ phải bí truyền để bảo vệ sự an huy của trời đất và tránh thảm sát giống cóc vốn được suy tôn <em>“cậu ông trời”</em> trong dân gian.</p>
<p>Tiên luyện là một quy trình bắt buộc từ nghi lễ đến quy tắc đun, quạt lò bếp, xử lý nguyên liệu của sư tổ để lại, đó là phép luyện tiên đan. Nếu không tuân theo thì sản phẩm làm ra, một sẽ không có tác dụng, hai là độc hại chết người. Đó là những điều bắt buộc, các thế hệ Đạo trưởng không được vi phạm lời thề và thủ tục thiêng liêng đó.</p>
<p>Tuy nhiên, hiện nay, số người bị bệnh hiểm nghèo khá đông, trong số đó có nhiều người nghèo khó không có tiềm lực, tiền tài để chạy chữa. Khả năng họ chỉ có thể tìm được con cóc mà thôi. Trước tình cảnh cụ thể đó, chúng tôi đã làm thủ tục xin phép tổ tiên được hướng dẫn riêng cho vợ, chồng, con bệnh nhân tự chế Thiềm Ô Châu theo phép tiểu tiên luyện để uống với thuốc nam do chúng tôi cung cấp theo kỳ môn y pháp. Một số bệnh nhân quá khó khăn đã tự động phối hợp với các vị thuốc dân gian như cây lược vàng, cây đu đủ đực, cây bạch hoa xà thiệt thảo và bán chỉ liên, cây xạ đen &#8230;v.v&#8230; tất nhiên hiệu quả chúng tôi không thể theo dõi&#8230;</p>
<p>Hiện nay chúng tôi vận dụng phép đại tiên luyện để mỗi lần sản xuất được hàng ngàn liều dùng trong lò nấu đặc biệt và chia lò bát quái truyền thống cổ truyền ra làm nhiều khâu khác nhau để đảm bảo bí mật. Khâu cuối cùng bắt buộc người Đạo trưởng phải thực hiện tự tay làm sao cho thành phẩm làm ra có chất lượng tốt nhất để cung cấp cho bệnh nhân.</p>

<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/linh-dan-thiem-o-chau/coc-dong.JPG" title="Cóc đúc bằng đồng Ngũ Xá" class="shutterset_singlepic31" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=31&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Cóc đúc bằng đồng Ngũ Xá" title="Cóc đúc bằng đồng Ngũ Xá" />
</a>

<p>Báo Tri thức trẻ số 224 ngày 10/10/2007 đã đăng bài với tiêu đề lớn ở trang bìa: <em><strong>“Con cóc trị được bệnh ung thư?”</strong></em> từ trang 9 đến trang 14, mô tả toàn bộ việc dùng linh đan Thiềm Ô Châu để chữa trị thành công ung thư phổi (K phổi) ở giai đoạn cuối và bị di căn nhiều lần cho tiến sĩ Vũ Văn Nghi tại thành phố Hồ Chí Minh.</p>
<p><strong>Cơ sở Nam Y Đạo Pháp của chúng tôi đã phối hợp chữa trị được nhiều bệnh ung thư khác nhau</strong></p>
<p>Qua kinh nghiệm phối hợp chữa K gan có nguồn gốc từ viêm gan virút B, chúng tôi nhận thấy khi bệnh K được đẩy lùi thì xét nghiệm HBVDNA đo bằng đơn vị copi/ml trở về dưới ngưỡng phát hiện. Trên siêu âm gan bị xơ lổn nhổn đã mịn trở lại, sau đó khối u bé dần và biến mất. Vì kết quả đó, chúng tôi đã sử dụng phối hợp linh đan Thiềm Ô Châu để chữa viêm gan virút B. Kết quả đạt được thật mỹ mãn. Ví dụ:</p>
<p><strong>- Bệnh nhân Đào Văn Túy, ở Cà Mau</strong></p>
<p>Kết quả xét nghiệm trước khi dùng thuốc là: HBVDNA 2,82&#215;10<sup>7</sup> copi/ml. Sau khi dùng thuốc 6 tháng kết quả xét nghiệm là 7,5&#215;10<sup>2</sup> copi/ml (đây là giới hạn cuối của phép đo ở Đại học Y khoa thành phố Hồ Chí Minh).</p>
<p>Các bệnh nhân khác được xét nghiệm ở Hà Nội đều có kết quả dưới ngưỡng 500 copi/ml (5&#215;10<sup>2</sup>).</p>
<p>Như vậy, linh đan Thiềm Ô Châu trở thành vị thuốc chủ lực để chữa viêm gan virút B.</p>
<p>Khi phối hợp linh đan Thiềm Ô Châu để chữa bệnh Lecemie cấp tính cho bà Dương Thị Minh Nguyệt (Luật sư) và bà Đặng Thị Loan (bạn bà Nguyệt) đều cư trú ở thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy linh đan Thiềm Ô Châu đã làm cho lượng tiểu cầu tăng trở lại khá nhanh. Hiện nay hai bà đã hoàn toàn khỏi bệnh dựa trên xét nghiệm máu và sức khỏe trở lại bình thường.</p>
<p>Vì vậy linh đan Thiềm Ô Châu đã được phối hợp để chữa các bệnh về máu như Lecemie cấp tính, mãn tính các dòng L&amp;M&#8230; bệnh đa u tủy và còn được phối hợp để chữa bệnh chảy máu thiếu tiểu cầu một cách hiệu quả.</p>

<a href="http://namydaophap.net/wp-content/gallery/linh-dan-thiem-o-chau/linh-dan-thiem-o-chau.JPG" title="Sản phẩm linh đan Thiềm Ô Châu" class="shutterset_singlepic32" >
	<img class="ngg-singlepic ngg-center" src="http://namydaophap.net/index.php?callback=image&amp;pid=32&amp;width=320&amp;height=240&amp;mode=" alt="Sản phẩm linh đan Thiềm Ô Châu" title="Sản phẩm linh đan Thiềm Ô Châu" />
</a>

<p><strong>Linh đan Thiềm Ô Châu là một thực phẩm chức năng đồng thời còn là một vị thuốc quý như vậy, nhưng đã có công trình nghiên cứu về bản chất của linh đan Thiềm Ô Châu hay chưa?</strong></p>
<p>Từ xưa đến nay thì chưa. Vì đây là một sản phẩm bí truyền lần đầu tiên được gọi tên ở báo Tri thức Trẻ số 224 ngày 10/10/2007. Nhưng từ đó chúng tôi đã gấp rút nghiên cứu và có một số kết quả như sau.</p>
<p><strong>Kết quả các nghiên cứu:</strong></p>
<ol>
<li>Linh đan Thiềm Ô Châu là bột màu đen, khô, nổi lên khi thả vào nước và khi đưa ra ánh sáng mặt trời thì phản quang lấp lánh.</li>
<li>Dịch cồn chiết từ linh đan Thiềm Ô Châu phát quang vàng dưới ánh sáng cực tím. Tiến sĩ Hà Huy Kế cùng với tiến sĩ Phan Quốc Kính dùng sắc ký giấy phân tích linh đan Thiềm Ô Châu thấy trên sắc ký đồ có một chất tan duy nhất trong cồn và phát quang vàng khi gặp ánh sáng cực tím.</li>
<li>Viện kiểm nghiệm của Bộ Y tế xác định linh đan Thiềm Ô Châu hoàn toàn không có độc đối với các lô thỏ thí nghiệm.</li>
<li>Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã xác định trong phiếu kết quả kiểm nghiệm số MM08092554 bằng phương pháp RefAOAC 96906; trong bột màu đen chế từ con cóc có chất Sêlen (Se) 0,16mg/kg và Kẽm (Zn) 263mg/kg. Như vậy linh đan Thiềm Ô Châu đúng là một thực phẩm chức năng quý. Nhất là nó đã được lưu truyền hàng ngàn năm và được dùng trong dân gian Việt Nam ở rất nhiều vùng Bắc, Trung, Nam.</li>
<li>Chất phát quang hiện nay đang được nghiên cứu về nguồn gốc bản chất hóa học và công thức khai triển.- Chúng tôi đã tiến hành nhiều thí nghiệm tại phòng thí nghiệm của tiến sĩ Phan Quốc Kính và tiến sĩ Hà Huy Kế và thấy rằng chất phát quang không phải là chất sinh ra từ tiên luyện. Nó là sản phẩm sinh học từ con cóc Việt Nam.- Khi chúng tôi tách con cóc ra làm nhiều bộ phận khác nhau và thấy xương, thịt, gan, ruột, phổi, tim&#8230; của cóc không có chất phát quang. Nhựa cóc chỉ có các chất độc, không có chất phát quang. Cuối cùng chất phát quang đó được phát hiện nằm trong da cóc và tập trung nhiều ở vùng da lưng. Ở các con cóc cụ (già và to) chất phát quang càng nhiều.</li>
</ol>
<p>Khi phối hợp linh đan Thiềm Ô Châu để chữa bệnh K, bệnh máu, bệnh viêm gan virút B, các bệnh nhân thấy sau khi khỏi bệnh, tóc bạc trước kia trở nên đen, cơ thể cường tráng. Một số bệnh nhân đã dùng linh đan Thiềm Ô Châu để chống tóc bạc sớm. Ngoài ra, vì linh đan Thiềm Ô Châu có tác dụng an thần và gây ngủ cho nên những người mắc bệnh mất ngủ đã dùng trước khi đi ngủ với liều từ 2g đến 4g, tránh phải dùng các thuốc ngủ độc hại.</p>
<p>Hy vọng trong thời gian ngắn nữa với sự giúp đỡ của bạn bè, của các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, chúng tôi sẽ tìm được hết bản chất chữa bệnh và dưỡng sinh thần diệu của linh đan Thiềm Ô Châu.</p>
<p>1/10/2008</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=74</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chữa bệnh bản năng</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=28</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=28#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 08 Apr 2010 01:27:09 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Cơ sở lý luận]]></category>
		<category><![CDATA[Chữa bệnh bản năng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=28</guid>
		<description><![CDATA[Bản năng tự chữa bệnh của động vật và con người]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>
<p>Những hành vi chữa bệnh đầu tiên của con người bắt đầu từ bản  năng. Biểu hiện của hành vi đó là sự thèm khát: thèm ăn, thèm uống, thèm  chua, thèm mặn… rất tự nhiên, đó là đặc tính sinh tồn của mọi loài, mọi  cá thể động vật.</p>
<p>Con chó sau khi sinh đẻ thèm ăn cây cỏ, gặp cây thích hợp với sự thèm  thuồng đó là cây “chó đẻ” <em>(Phyllanthus urinaria L)</em>. Con chó chưa đủ ý  thức để coi đó là vị thuốc để chữa táo, kiết, hay lợi tiểu.</p>
<p>Người ta quan sát được hành vi này bắt chước và phát hiện đó là một  vị thuốc để chữa bệnh về gan, về tiêu hóa với tên thuốc là “Diệp hạ  châu”. Còn đối với con chó, đó là bản năng sẵn có. Đấy cũng chính là  cách chữa bệnh bản năng.</p>
<p>Con hươu, con nai vì thèm muối, chúng tìm đến các nương rẫy mới đốt  để ăn tro tàn của cỏ cây, vì trong tro than ấy có nhiều muối Kali, muối  Natri.</p>
<p>Con người sống trên các vùng rừng núi xưa, vì thiếu muối cũng có các  hành vi tương tự: đốt cỏ tranh lấy tro, hòa vào nước, sau đó lọc trong,  cô lấy muối.</p>
<p>Thời kháng chiến chống Mỹ, quân đội và cán bộ giải phóng cùng với  nhân dân các dân tộc trên dẫy núi Trường Sơn cũng đã từng phải lấy muối như  thế khi bị địch bao vây phong tỏa tiếp tế.</p>
<p>Người phụ nữ mang thai vì đòi hỏi bản năng mà ăn dở, thèm của chua  (sấu, khế…), thèm của chát (chuối xanh, búp ổi), thậm chí thèm đất vách,  gạch non, vôi trát tường… Sự thèm khát tự nhiên như vốn có của trời  đất.</p>
<p>Hành vi chữa bệnh theo bản năng còn xuất phát từ bản năng tự vệ của  chung các động vật, ví dụ như: ngứa thì gãi, đau thì xoa. Con trâu vì có  nhiều rận, rệp ký sinh mà đứng ung dung gặm cỏ mặc cho các chú chim  khách đến ăn các con rận, rệp khắp trên người.</p>
<p>Hành động chữa bệnh tự nhiên này ở các bầy khỉ, vượn lại khác. Chúng  bắt chấy, rận cho nhau vừa để chữa bệnh, vừa để bày tỏ tình thân hữu.</p>
<p>Con cá vược to há miệng cho lũ cá vệ sinh vào dọn sạch các thức ăn ôi  thiu ở răng, đó là cách chữa bệnh bản năng.</p>
<p>Con khỉ khi bị thương, chúng lấy lá nhai nát và đắp lên vết thương để  cầm máu. Con người đã bắt trước khỉ tìm được loại lá chữa bệnh đặt tên  là lá “con khỉ”, lá “tu lình”… Trong dân gian nhiều cùng thôn dã hiện  nay vẫn còn cách nhai lá đắp lên vết đứt tay, đắp lên mụn nhọt, đinh  độc…</p>
<p>Tìm lá, nhai, đắp… là hành động chữa bệnh bằng cây cỏ sơ khai nhất.  Bắt nguồn từ đó với hàng triệu năm phát triển mà loài người ngày nay có  một kho tàng y học dân gian khổng lồ.</p>
<p>Người vượn khi đuổi bắt mồi hoặc bị kẻ thù mạnh hơn tấn công phải  chạy trốn, các bó cơ ở chân năng lượng <em>(ATP – Adenosine triphosphate)</em> bị  cạn kiệt, co cứng, gây nên tình trạng chuột rút. Phản ứng tự nhiên là  lấy tay cào cấu rồi đến dùng đã nhọn, gai, que nhọn đầu đâm vào vào vùng  bị co cứng ấy. Hành vi mang tính phản xạ tự nhiên rất bình thường này  đã giúp tìm ra các vị trí cố định gọi là huyệt và từ đó ra đời cả một  nền y thuật là thạch châm, trúc châm và đến xoa bóp bấm huyệt và châm  cứu hiện đại ngày nay.</p>
<p>Chúng ta có thể tìm ra rất nhiều ví dụ về bản năng chữa bệnh của động  vật và con người.</p>
<p>Xuất phát từ bản năng sẵn có của muôn loài ấy, với cơ cấu bộ não  thông minh, hoàn hảo của loài người mà y học đã phôi thai và phát triển.</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=28</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Y học dân gian</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=26</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=26#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 08 Apr 2010 01:25:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Cơ sở lý luận]]></category>
		<category><![CDATA[Y học dân gian]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=26</guid>
		<description><![CDATA[Y học dân gian là tài sản khổng lồ và bất tận của mọi nền y khoa trong qua khứ, đương đại và cả ở tương lai của tất cả các nước Đông và Tây.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>
<p>Trong quá trình đấu tranh để sinh tồn theo các quy luật tự nhiên  và xã hội, những kiến thức và kinh nghiệm chữa bệnh dần hình thành, các  cây cỏ và động vật có thể ăn được, có thể chữa bệnh, thậm chí có thể  dùng các vị thuốc có độc rất mạnh để đầu độc, đánh bẫy, săn bắt… không  những giới động thực vật, khoáng vật và các hình thức tiềm ẩn khác cũng  dần được khai thác để chữa bệnh. Các huyệt châm, chích đầu tiên được  phát hiện đến các y thuật cạo gió, chích lể, châm, cứu nóng để chữa  bệnh, có khi được tiến hành độc lập, có khi được phối hợp dùng thuốc.</p>
<p>Mỗi cá thể trong suốt quá trình sinh tồn đã có những kinh nghiệm chữa  bệnh riêng tích lũy được công với các kiến thức của các thế hệ trước  truyền lại (truyền miệng hay bằng văn tự) cho con cháu.</p>
<p>Các bài thuốc dân gian hình thành và được bổ sung, gọt rũa. Các bầy  đàn, tộc, lạc khác nhau ở các vùng lãnh thổ khác nhau, các vùng khí hậu  và sinh thái khác nhau… đã tập hợp được các kiến thức đặc thù rất khác  nhau trong chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe.</p>
<p>Những vị thuốc, bài thuốc, phương thuốc được lưu truyền qua nhiều thế  hệ, trở thành tài sản sở hữu của từng gia đình, đó là thuốc gia truyền.  Có nhiều bài thuốc, vị thuốc quan trọng được bí truyền ở các già làng,  trưởng bản, thầy mo, thầy cúng…</p>
<p>Tất cả các vị thuốc, bài thuốc, phương thuốc và các y thuật được đúc  rút và lưu truyền trên khắp các lãnh thổ, các quốc gia, các châu lục, từ  núi cao, sa mạc, đến hải đảo… gọi chung là nền y học dân gian.</p>
<p>Y học dân gian là tài sản khổng lồ và bất tận của mọi nền y khoa  trong qua khứ, đương đại và cả ở tương lai của tất cả các nước Đông và  Tây.</p>
<p>Ví dụ cách chữa bệnh bằng công năng sinh học đã có trong dân gian từ  rất xa xưa như việc thổi vào nước đến sôi để chữa bệnh của dân tộc Rục  (Quảng Bình). Đây là dân tộc chưa được liệt kê trong 64 dân tộc Việt  Nam.</p>
<p>Các thầy thuốc phương Đông cũng đã dùng năng lượng sinh học tiềm ẩn  này. Thầy Hoa Đà (đời Tam Quốc ở Trung Quốc) đã sáng tạo phép luyện Ngũ  Cầm Hý thành công năng chữa bệnh.</p>
<p>Thầy Tuệ Tĩnh (đời Trần ở Việt Nam) đã luyện công dưỡng sinh. Người  đã dạy lại hậu thế cách luyện công dưỡng sinh ngắn gọn như sau:</p>
<p><em>“Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần<br />
Thanh tâm, quả</em><em> dục, thủ chân, luyện hình”</em></p>
<p>Trong thời hiện đại, bác sĩ Nghiêm Tân (Trung Quốc) đã dùng công năng  rèn luyện công phu chữa bệnh thật kỳ diệu và nổi danh khắp Trung Hoa và  thế giới, nhiều bệnh khó khăn đã được chữa trị một cách thuyết phục.</p>
<p>Vậy công năng sinh học chắc hẳn là một cánh cửa riêng đã mở từ y học  dân gian vào y học phương Đông và vào không gian của y học hiện đại.</p>
<p>Riêng ở Việt Nam, y học dân gian rất đa dạng và phong phú trong 54  dân tộc sinh sống từ ở quần đảo, biển khơi đến núi non rừng rú. Mỗi dân  tộc đều có các phương thuốc để sinh tồn trong suốt quá trình dài dằng  dặc của lịch sử. Có những dân tộc còn rất lạc hậu, du canh du cư, mặc áo  da thú, ăn hang ở lỗ, dựa vào săn bắt và hái lượm như dân tộc Rục vẫn  có những phương thuốc chữa bệnh đặc biệt và hữu hiệu.</p>
<p>Hiện nay những người hành nghề chữa bệnh dân gian, gia truyền kinh  nghiệm khá nhiều trên khắp đất nước. Nhiều người trong số này  là hội viên hội Đông Y, hội châm cứu. Các cơ quan quản lý nhà nước cần tạo ra một hành lang pháp lý để y học dân gian có thể đàng hoàng đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ sức  khỏe toàn dân.</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=26</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Y học dân tộc</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=24</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=24#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 08 Apr 2010 01:23:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Cơ sở lý luận]]></category>
		<category><![CDATA[Y học dân tộc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=24</guid>
		<description><![CDATA[Các bộ tộc, bộ lạc lớn mạnh dần chiếm cứ các vùng lãnh thổ để lập nước. Các cuộc đấu tranh ác liệt để bảo vệ lãnh thổ và tranh chấp quyền lực đòi hỏi rất nhiều đến y tế để bảo vệ sức khỏe, chữa bệnh cấp cứu: thương đao, cháy nổ, thảm họa chiến tranh cũng như các thảm họa thiên nhiên như mưa bão, lụt lội… Đây là đòi hỏi khách quan để hình thành nên nền “Quốc Y” của các dân tộc khắp nơi trên thế giới.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>
<p>Các bộ tộc, bộ lạc lớn mạnh dần chiếm cứ các vùng lãnh thổ để lập  nước. Các cuộc đấu tranh ác liệt để bảo vệ lãnh thổ và tranh chấp quyền  lực đòi hỏi rất nhiều đến y tế để bảo vệ sức khỏe, chữa bệnh cấp cứu:  thương đao, cháy nổ, thảm họa chiến tranh cũng như các thảm họa thiên  nhiên như mưa bão, lụt lội… Đây là đòi hỏi khách quan để hình thành nên  nền “Quốc Y” của các dân tộc khắp nơi trên thế giới.</p>
<p>Những người sở hữu nhiều kiến thức và kinh nghiệm chữa bệnh thường  là:</p>
<ul>
<li> Các võ sư trong các môn phái, trường phái võ thường có các bài  thuốc thiên về mạnh gân cốt, cấp cứu sưng đau, vết thương do đòn đánh,  thương, đao, tên…</li>
<li> Các thầy mo, thầy cúng, sư sãi, bà mế, ông lang… chữa bệnh hành  ngày bằng cây cỏ, động vật, bằng châm, cứu, chích, lể hoặc các phép chữa  đặc biệt khác.</li>
<li>Đáng chú ý hơn cả là các nhà thông thái, các học giả trí thức, các  triết gia. Ở Phương Đông có các nhà Nho giỏi cả y, lý, số, nhập thế làm  quan, phò vua trị quốc, xuất thế về ở ẩn, dạy học hoặc làm thuốc chữa  bệnh, từ các bài thuốc, phương thuốc tản mạn được lựa chọn tổng hợp lại,  thậm chí được đúc rút thành kinh nghiệm và tổng kết lâm sàng.</li>
</ul>
<p>Ở Việt Nam ta, đời vua Lý Thái Tổ (1010–1028) dời đô về Thăng Long,  có quan Thái Y nổi tiếng nay còn đền thờ ở phố Lý Quốc Sư, quận Hoàn  Kiếm, là thầy thuốc giỏi về châm cứu. Y học Việt Nam khi đó là y học dân  tộc, ít nhiều chịu ảnh hưởng của Trung Y.</p>
<p>Y học dân tộc Việt Nam thời Lý, Trần đã phát triển đặc biệt hùng mạnh  vì nó đã đảm nhận về mọi mặt y tế của một quốc gia độc lập, nhất là đã  hậu cần cho cuộc chiến tranh chống quân Nguyên Mông ba lần đại thắng.  Trong khi đó đất nước Trung Hoa, trung tâm y khoa của Phương Đông đã bị  quân Nguyên đè bẹp.</p>
<p>Y thư tương đương thời kỳ đó không còn nhưng Dược Sơn, vườn thuốc của  tướng Trần Hưng Đạo ở Kiếp Bạc (Chí Linh, Hải Dương) vẫn còn đến ngày  nay. Những năm 1970 của thế kỷ XX, chúng tôi còn có nhiều dịp đưa học  sinh lên Dược Sơn tìm thuốc của Đức Thánh Trần. Dược Sơn ngày nay của  thế kỷ XXI chỉ còn lại dấu vết.</p>
<p style="text-align: justify;">Đến cuối đời Trần, tổ sư Tuệ Tĩnh đã viết  Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư và Nam Dược Thần Hiệu, đó là những tác phẩm đầu  tiên làm chiếc cầu lớn nối y học Việt Nam với nền y học cổ Trung Hoa  đánh dấu một giai đoạn mới của y khoa Việt Nam, giai đoạn hòa nhập với  nền y học Phương Đông với câu nói nổi tiếng:</p>
<p style="text-align: center;"><em>“Tôi tiên sư kính đạo tiên sư<br />
Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt”</em></p>
<p>Nam Dược Thần Hiệu và Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư được lưu giữ trong dân  gian đến năm 1717 thì được Phủ Chúa Trịnh cho sửa chữa và in thành sách.  Trong lời tựa của sách Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư năm Vĩnh Thịnh thứ 13  (tức năm 1717), các quan nội thị Phủ Chúa Trịnh viết rằng:</p>
<p><em>“Trời Nam mở nước, nghề làm thuốc kể có  hàng trăm hàng nghìn người nhưng hỏi đến người trước lập thư ngôn để  giảng dạy cho người sau thì như leo lên ngọn cây mà tìm cá vậy. Nay có  bậc lão sư biệt hiệu Tuệ Tĩnh (tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh), người làng  Nghĩa Phú, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng là một vị sư cụ nghiên cứu  rộng về học thuyết âm dương, tìm hiểu sâu về y đạo, từng soạn tập bản  thảo bằng quốc âm với tất cả 581 vị thuốc, lại đem kinh nghiệm nghiên  cứu của bản thân viết ra 13 phương chữa bệnh và 37 cách chữa thương hàn,  tất cả diễn thành lời ca tiếng Việt, sắp thành một pho sách tiếng tăm  vang bốn phương”.</em></p>
<p>Vậy đã cách chúng ta ngày nay hơn 300 năm,  thời Lê–Trịnh đã coi Tuệ Tĩnh là người thầy lớn nhất của nghề làm thuốc  chữa bệnh ở nước ta.</p>
<p>Các thầy thuốc của nền y học dân tộc cũng  mở lớp truyền dạy cho y sinh. Họ đào tạo các thế hệ thầy thuốc kế nghiệp  một cách tự phát. Điều này giống với tất cả các nghề khác trong xã hội  đương thời như nghề mộc, nghề rèn, nghề may… thậm chí nghề võ.</p>
<p>Các thầy chọn trong số học trò có tài năng,  có đạo đức để truyền dạy hết bí mật nghề nghiệp ở ba mức độ khác nhau  là công truyền, chân truyền và bí truyền. Học trò được bí truyền là đặc  biệt để nối dõi sự nghiệp khi thầy tạ thế.</p>
<p>Do truyền dạy theo cách truyền nghề như vậy  nên y thuật, y lý được lưu giữ, bổ sung và phát triển.</p>
<p>Bộ sách nổi tiếng Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư  và Nam Dược Thần Hiệu được lưu truyền như vậy mấy trăm năm sau con cháu  và học trò mới đem ra sửa chữa và in ấn.</p>
<p>Y học dân tộc không chỉ có ở các nước Châu Á  mà còn tồn tại ở các nước Châu Phi, Châu Mỹ. Hiện nay chúng cũng được  công nhận như là một bộ phận hợp pháp, bình đẳng với y học hiện đại,  đang phát huy khả năng chữa bệnh và phòng bệnh độc đáo của mình.</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=24</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tây y</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=22</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=22#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 08 Apr 2010 01:22:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Cơ sở lý luận]]></category>
		<category><![CDATA[Tây Y]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=22</guid>
		<description><![CDATA[Các dân tộc phương Tây cũng như các dân tộc khác ở phương Đông, từ nền y khoa dân gian, dân tộc tản mạn dần dần được tập hợp lại bằng những bộ óc thông thái.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>
<p>Các dân tộc phương Tây cũng như các dân tộc khác ở phương Đông,  từ nền y khoa dân gian, dân tộc tản mạn dần dần được tập hợp lại bằng  những bộ óc thông thái.</p>
<p>Tây Y từng coi Hippocrates (460 – 370 tr.CN) là ông tổ. Hippocrates  là người gốc Hy Lạp ở đảo Cos vùng biển Egee. Truyền thuyết cho rằng  Hippocrates là con một người làm thuốc, được cha truyền cho những kiến  thức về y rồi tiếp tục học ở Athenes và tiếp đó đi du học ở nhiều nơi,  đến Tharace, Thessalie, Macedoine. Ở đảo Cos, ông hành nghề y và trở nên  nổi tiếng ở đó. Ông là người sáng lập ra trường phái y khoa gọi là  “Trường phái Cos”. Ông đã tách rời y học ra khỏi tôn giáo, xây dựng y  học trên cở sở vật chất, dựa vào quan sát lâm sàng sắc sảo với các dấu  hiệu về triệu chứng bệnh để chữa trị.</p>
<p>Hippocrates mở ra một kỷ nguyên mới cho y học cổ Hy Lạp, đó là kỷ  nguyên của thầy thuốc lâm sàng. Theo dõi bệnh tật như một hiện tượng tự  nhiên, chủ yếu là nâng cao sức đề kháng vốn có của cơ thể. Ông đề cao  nguyên tắc không chỉ điều trị bệnh mà còn phải điều trị người bệnh.</p>
<p>Hippocrates coi thiên nhiên là người thầy vĩ đại nhất, còn thầy thuốc  chỉ là kẻ nô bộc. Ông còn nổi danh với đaoh đức y gia với lời thề mà  nhiều thế hệ y sinh tốt nghiệp y khoa phải tuyên thề danh dự. Lời thề đó  như sau:</p>
<p><em>“Tôi xin thề trước Apollon thần chữa bệnh, trước Æsculapius thần y  học, trước thần Hygieia và Panacea, và trước sự chứng giám của tất cả  các nam nữ thiên thần, là tôi sẽ đem hết sức lực và khả năng để làm trọn  lời thề và lời cam kết sau đây:</em></p>
<ul>
<li><em>Tôi sẽ coi các thầy học của tôi ngang hàng với các bậc thân sinh  ra tôi. Tôi sẽ chia sẻ với các vị đó của cải của tôi, và khi cần tôi sẽ  đáp ứng những nhu cầu của các vị đó. Tôi sẽ coi con của thầy như anh em  ruột thịt của tôi, và nếu họ muốn học nghề y thì tôi sẽ dạy cho họ  không lấy tiền công mà cũng không giấu nghề. Tôi sẽ truyền đạt cho họ  những nguyên lý, những bài học truyền miệng và tất cả vốn hiểu biết của  tôi cho các con tôi, các con của các thầy dạy tôi và cho tất cả các môn  đệ cùng gắn bó bởi một lời cam kết và một lời thề đúng với Y luật mà  không truyền cho một ai khác.</em></li>
<li><em>Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chế độ có lợi cho người bệnh tùy theo khả  năng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công.</em></li>
<li><em>Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu  và cũng không tự mình gợi ý cho họ; cũng như vậy, tôi cũng sẽ không trao  cho bất cứ người phụ nữ nào những thuốc gây sẩy thai.</em></li>
<li><em>Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết.</em></li>
<li><em>Tôi sẽ không thực hiện những phẫu thuật mở bàng quang mà dành  công việc đó cho những người chuyên.</em></li>
<li><em>Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh,  tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý và đồi bại nhất là tránh cám dỗ phụ nữ và  thiếu niên tự do hay nô lệ.</em></li>
<li><em>Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong xã hội, trong và cả ngoài  lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao  giờ cần để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như một nghĩa vụ.</em></li>
<li><em>Nếu tôi làm trọn lời thề này và không có gì vi phạm tôi sẽ được  hưởng một cuộc sống sung sướng và sẽ được hành nghề trong sự quý trọng  mãi mãi của mọi người. Nếu tôi vi phạm lời thề này hay tôi tự phản bội,  thì tôi sẽ phải chịu một số phận khổ sở ngược lại.”</em></li>
</ul>
<p>Lời thề trên đây ngày nay có thể không còn được tuyên đọc ở các kỳ lễ  của các y sinh tốt nghiệp các trường thuốc vì có nhiều điều không còn  thích hợp ở thời hiện đại, nhưng đó đúng là đạo đức cảo cả, mẫu mực cho  các thầy thuốc thời cổ đại, nay vẫn còn đáng để cho các y gia hiện đại  suy ngẫm.</p>
<p>Y học Hippocrates tương đồng với nhiều quan điểm của y học phương  Đông. Nhưng đến thế kỷ XVI, châu Âu bước vào gia đoạn Phục Hưng, khoa  học, kỹ thuật và các phát minh sáng chế phát triển, y học lâm sàng  Hippocrates đã tạm dừng bước. Y học phương Tây bám sát các thành tựu  khoa học kỹ thuật để phát triển. Bốn thế kỷ XVII, XVIII, XIX, XX, khoa  học kỹ thuật phát triển như vũ bão, tất cả các ngành Toán học, Vật lý,  Hóa học, Sinh học… đều được ứng dụng. Y học lâm sàng Hippocrates chuyển  thành nền khoa học thực nghiệm.</p>
<p>Y học phương Tây tiến từ y học lâm sàng đến y học phân tử, bán phân  tử, gốc tự do… ứng dụng công nghệ Gene, giải mã Gene, nhân bản để ứng  dụng vào cấy ghép phủ tạng. Về chiều rộng, y học phương Tây tiến vào  nghiên cứu y học vũ trụ, y học môi trường. Về chiều sâu, đi vào y học  hạt nhân, kỹ thuật Nano, và y học lượng tử…</p>
<p>Chẩn đoán bệnh từ chỗ chỉ nhìn, sờ, gõ, nghe chuyển sang xét nghiệm:  máu, nước tiểu, sinh hóa, vi trùng, virut, ký sinh trùng… xét nghiệm tế  bào, xét nghiệm gene di truyền… Chẩn đoán bệnh nhờ kỹ thuật hình ảnh:  điện quang, siêu âm, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ…</p>
<p>Khối lượng kiến thức y khoa hiện nay thật khổng lồ cho nên các y sinh  với chương trình đào tạo 6-7 năm không thể nào học hết, vì vậy các  chuyên khoa hình thành ngày càng nhiều.</p>
<p>Vấn đề nghiên cứu thuốc cũng thay đổi cơ bản. Từ chỗ chỉ dựa vào cảm  giác như nếm, nhấm, ngửi, đến chỗ dựa vào đặc tính phân loại họ, giống  loài… của cây cỏ hay động vật với các hoạt chất hóa học chứa trong đó để  chữa bệnh.</p>
<p>Các chất được chiết tách ra khỏi dược liệu lám tinh khiết, cô đặc,  thử tác dụng dược lý, tính liều chữa bệnh, liều độc, liều chết… Thuốc  đưa ra sử dụng với tác dụng dược lý ổn định, thành phần hóa học, tính  chất vật lý tiêu chuẩn, sau đó được thử thăm dò ở động vật đến người  theo một liệu trình bắt buộc khắt khe và tốn kém để đảm bảo tính khoa  học, chính xác và an toàn.</p>
<p>Ngoài thuốc từ dược liệu thiên nhiên, thuốc còn được tổng hợp từ  ngành hóa dược, hoặc dược bán tổng hợp. Nói chung hàng năm dược điển các  nước càng dày thêm và danh mục biệt dược cũng ngày càng nhiều. Thầy  thuốc nếu không bám sát thị trường thuốc trong một thời gian ngắn một  hai năm thôi thì đã thấy lạ lẫm nhiều rồi.</p>
<p>Thuốc chuyên khoa cũng ngày một nhiều. Bác sĩ chuyên khoa này có thể  không hiểu thuốc ở chuyên khoa khác. Cách dùng thuốc cũng rất đa dạng từ  bôi, xông, xoa, nhỏ mũi, nhỏ mắt… đến uống, tiêm bắp, tiêm mạch máu,  truyền tĩnh mạch, chạy điện đi qua da…</p>
<p>Với khoa học thực nghiệm rõ ràng, chính xác, tiện lợi, mau lẹ, hiệu  quả, Tây Y đã nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí độc tôn trên toàn thế giới.</p>
<p>Thế kỷ XIX, Tây y theo nền kinh tế hàng hóa đến giữ vị trí chủ đạo ở  hầu hết các nước quan trọng ở châu Á.</p>
<p>Ở Việt Nam thế kỷ XIX, Pháp ra lệnh cấm, Đông y chỉ còn hoạt động lén  lút ở các vùng thôn quê.</p>
<p>Nhật Bản, tháng 2 năm 1895 quốc hội đã thông qua một sắc lệnh về quy  chế hành nghề y dược gọi là “Y sư chấp chiếu quy tắc tu cải pháp án”,  các hoạt động khám chữa bệnh Đông y và đông dược đều bị cấm chỉ. Như  vậy, nước Nhật nhằm duy tân đã tự ra lệnh cấm Đông y.</p>
<p>Trung Quốc là thủy tổ của các sư phụ Đông y lỗi lạc, nơi tập trung  rất nhiều các tác giả và tác phẩm về chữa bệnh suốt gần 50 thế kỷ, tình  hình cũng không sáng sủa gì hơn.</p>
<p>Năm 1897, nho sĩ Du Việt ở Triết Giang (Trung Quốc) đưa ra luận  thuyết <em>“Phế y luận”</em> hàm ý rằng cần phế bỏ Đông y, không dùng  đông dược. Triều Thanh cũng đã cấm một số y thuật như châm cứu trong  Thái y viện. Đến khi nhà Thanh sụp đổ, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đã  chống Đông y một cách quyết liệt. Bắt đầu từ Uông Đại Nhiếp (Bộ trưởng  Bộ giáo dục); ông ta tuyên bố: <em>“Từ nay về sau tôi quyết tâm phế bỏ  Đông y, không dùng đông dược…”</em> (tháng 9 năm 1912). Đấy mới là đường  lối diệt Đông y trong giáo dục. Đến năm 1929, chính quyền Quốc dân đảng  mở rộng các hoạt động tiêu diệt Đông y. Hội đồng y học trung ương đã  thông qua đề án của Dư Văn Tụ có tên là: <em>“Đề án phế bỏ y học cũ,  nhằm loại bỏ trở ngại trong sự nghiệp phát triển y học”</em>, với đề án  này, sau 15 năm Đông y Trung Quốc sẽ bị tiêu diệt.</p>
<p>Như vậy, tại quê hương của nền Đông y phát triển rực rỡ ngàn năm đã  tiếp thu Tây y một cách vội vã… điều đó nói lên rằng Tây y về thực tiễn  chữa bệnh dựa trên nền tảng khoa học thực nghiệm đã thực sự thuyết phục  các nhà trí thức, nhà quản lý lớn của Trung Quốc thời đó.</p>
<p>Ba quốc gia phương Đông có nền Đông y đặc biệt phát triển đều đã tự  cấm hoặc bị cấm hoạt động Đông y, đông dược. Điều đó nói lên rằng Tây y  thực sự có sức mạnh.</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=22</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đông y</title>
		<link>http://namydaophap.net/?p=20</link>
		<comments>http://namydaophap.net/?p=20#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 08 Apr 2010 01:20:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trung Nguyen</dc:creator>
				<category><![CDATA[Cơ sở lý luận]]></category>
		<category><![CDATA[Đông y]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://namydaophap.net/?p=20</guid>
		<description><![CDATA[Nền y học dân gian, gia truyền, kinh nghiệm cộng với tổng kết lâm sàng chưa thể nói đó là Đông y. Bởi vì y học phương Đông dựa trên nền tảng của một vũ trụ quan triết học, mô phỏng quy luật vận động của vật chất. Đó là quy luật sinh ra, lớn lên, biến hóa và tàn lụi.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>
<p>Nền y học dân gian, gia truyền, kinh nghiệm cộng với tổng kết lâm  sàng chưa thể nói đó là Đông y. Bởi vì y học phương Đông dựa trên nền  tảng của một vũ trụ quan triết học, mô phỏng quy luật vận động của vật  chất. Đó là quy luật sinh ra, lớn lên, biến hóa và tàn lụi.</p>
<p>Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu hóa, Đông tàn hàng ngàn năm liên tiếp dịch  lý ấy được 5 tác giả lớn kế tiếp nhau biên tập, bổ xung đến hoàn chỉnh  gọi là Ngũ Thánh tiên sư. Đó là: Phục Hy (2953-2858 tr.CN), Văn Vương,  Chu Công, Khổng Tử và Vũ Đế.</p>
<p>Kinh dịch ta biết hiện nay là Chu dịch (đời Chu từ 1150 đến 249  tr.CN). Chu dịch lấy quẻ bát thuần càn, tượng trưng hình trời là quẻ đầu  của 64 quẻ dịch. Nội dung dịch lý ấy có thể tóm tắt như sau:</p>
<ul>
<li>Vô cực sinh thái cực <em>(chưa phân âm dương)</em></li>
<li>Thái cực sinh lưỡng nghi <em>(âm – dương)</em></li>
<li>Lưỡng nghi sinh tứ tượng <em>(thái âm thiếu dương và thái dương  thiếu âm)</em></li>
<li>Tứ tượng sinh bát quái <em>(càn, đoài, ly, chấn, tốn, khảm, cấn,  khôn)</em></li>
<li>Bát quái chuyển động tạo ra 64 trùng quái và biến hóa vô cùng vô tận</li>
</ul>
<p>Quy luật vận động trên đây thâu tóm mọi hình thức tồn tại vô hình và  hữu hình, vô hạn và hữu hạn của vật chất, khi có động thì có biến, biến  sinh hoặc biến sát. Biến sinh chưa chắc đã tốt, biến sát chưa chắc đã  xấu.</p>
<p>Càn khôn nắm giữ quyền sinh sát <em>(càn khôn là biểu tượng của trời –  quẻ càn và đất – quẻ khôn)</em>, thuận theo đạo trời thì sống, nghịch  với đạo trời thì chết.</p>
<p>Thế kỷ XVII với các cuộc giao thương Âu –<em> </em>Á, kinh dịch đã  hấp dẫn các nhà văn hóa nổi tiếng phương Tây như James Legge (Anh),  Rhichard Wilhelm (Đức).</p>
<p>Đến nay kinh dịch, một quyển sách cổ của Trung Hoa, là trụ cột trong  biện chứng luận trị của y học phương Đông, là tài sản văn hóa của toàn  nhân loại mà giá trị của nó chưa được khám phá hết.</p>
<p>Ở các nước phương Tây, kinh dịch được gọi với tên là “Sách biến dịch”  (The Book of changes). Quách Mạt Nhược, nhà văn lớn của Trung Hoa đã  từng nói: <em>“Chu dịch là một cung điện thần bí”</em>. Mãi đến thế kỷ  XX hiện đại, cung điện này vẫn phát tán ra những ánh hào quang thần bí.  Phạm vi ứng dụng của Chu dịch rất rộng trong các ngành nông nghiệp,  thiên văn địa lý, số học, hóa học, quân sự, ngoại giao, nhân thể học, y  học, sinh học, dự đoán học, chọn giống, di truyền, khí công, sử học,  truyền tin…</p>
<p>Dựa chắc vào trụ cột là dịch học nhiều ngàn năm, các tác giả, tác  phẩm xây dựng nền y khoa phương Đông có thể dẫn đến như:</p>
<ul>
<li><em>“Nội Kinh”</em> do Hoàng Đế và Kỳ Bá biên soạn năm 2750 tr.CN,  gồm 18 quyển, trong đó có 9 quyển chân kinh và 9 quyển tố vấn. Đó là  sách nói về đạo của sự sống và nói cái cốt lõi của thần linh (lời bình  của Trương Cảnh Nhạc, đời Minh, Trung Quốc).</li>
<li>Biển Thước (thế kỷ V tr.CN) viết Nạn Kinh, có 81 nạn nói về chẩn  đoán, điều trị, bệnh lý, giải phẫu, đặc biệt là mạch pháp. Tới nay,  thiên hạ vẫn cho rằng phép bắt mạch chẩn bệnh đầu tiên là của Biển  Thước.</li>
<li>Trọng Cảnh quê ở Nam Dương (thế kỷ II tr.CN) ở thời Đông Hán, ông đã  viết “<em>Thương hàn luận”</em> và “<em>Kim quỹ yếu lược”</em> tổng kết  toàn bộ các chứng ngoại cảm và điều trị tạp bệnh.</li>
<li>Tôn Tử Mao (581–682 sau CN) là y gia nổi tiếng đời Đường có tác phẩm  <em>“Thiên kim cương”</em>. Ông cho rằng sinh mệnh con người còn quý  hơn cả ngàn vàng.</li>
<li>Vương Đào (đời Đường, Trung Quốc) với tác phẩm <em>“Ngoại đài bí  yếu”</em>.</li>
<li>Tứ đại y gia (thế kỷ XIII – XIV đời Kim Nguyên, Trung Quốc) gồm các  tác giả: Trương Tử Hòa, Lưu Hà Gian, Chu Đan Khê, Lý Đông Viên. Đáng chú  ý là quan điểm <em>“trọng tỳ vị”</em> của Lý Đông Viên và học thuyết <em>“Âm  thường bất túc, Dương thường dưỡng dư”</em> của Chu Đan Khê.</li>
</ul>
<p>Đời Minh (Trung Quốc) các y gia nổi tiếng rất nhiều. Trương Trường Sa  đã nghiên cứu nhiều tác phẩm, tác giả cổ thấy nhiều chỗ hoang đường  không tin được. Trương Thạch Ngoan với tác phẩm<em> “Trương Thị Y Tông”,  “Thương hàn quản luận”, “Thương hàn chủ luận”</em>. Triệu Hiên Khả với  tác phẩm <em>“Kinh lạc khảo chính”, “Mạch luận”.</em> Lý Thời Chân với  bản thảo cương mục <em>“Tần hồ mạch học”</em> (Tần Hồ là tên hiệu của Lý  Thời Chân).</p>
<p>Đời Minh còn có nhiều y gia nổi tiếng khác như Tiết Lập Trai với tác  phẩm <em>“Tiết thi án”.</em> Lý Sĩ Tài với tác phẩm <em>“Nội kinh chỉ  yếu”, “Y tông tất độc”, “Thương hàn quát yếu”.</em> Trương Cảnh Nhạc với  tác phẩm <em>“Cảnh nhạc toàn thư”, “Ôn phương bát luận”.</em></p>
<p>Như vậy tương đương với nhà Trần của ta ở Việt Nam là triều Nguyên và  Triều Minh ở Trung Quốc.  Tác phẩm, tác giả về y khoa rất phong phú và  đa dạng.</p>
<p>Đồng hành với Trung y, có các nước trong cộng đồng phương Đông như  Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam.</p>
<p>Tại Việt Nam có hai tác giả lớn đã có trước tác đóng góp vào kho tàng  y khoa phương Đông là Đại danh y Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông – Lê  Hữu Trác.</p>
<p><strong>1. </strong><strong>Tuệ Tĩnh</strong></p>
<p>Với hai pho sách thuốc là <em>“Hồng nghĩa giác tư y thư” và “Nam dược  thần hiệu”.</em></p>
<p>Tuệ Tĩnh tức Nguyễn Bá Tĩnh, sinh ở Nghĩa Phú, Cẩm Giàng, Hải Dương.  Theo những tư liệu của phả ký, văn bia và truyền thuyết thì ông sinh vào  năm 1330, đỗ Hoàng Giáp năm 1351 và đời Trần Dụ Tông (1341 – 1357).</p>
<p>Thời kỳ này tình hình triều chính rối loạn, Chu Văn An dâng <em>“thất  trảm sớ”</em> xin chém 7 gian thần không được vua nghe đã cáo quan về  ẩn tại núi Phượng Hoàng chữa bệnh.</p>
<p>Nguyễn Bá Tĩnh đã cáo quan về đi tu và chữa bệnh. Ông là thầy thuốc  nổi tiếng nên đã bị xung vào đoàn sứ sang tiến cống nhà Minh. Ông đã  chữa bệnh trong nội cung và cho nhiều quan lại nhà Minh, được vua Minh  phong chức Thái y Thiền sư. Truyền thuyết cho rằng ông mất vào ngày 15  tháng 2 âm lịch, năm Canh Thìn (1400) thọ 71 tuổi và được vua Minh cho  lập miếu thờ ở Tây Bạch Hồ trong Tử Cấm Thành. Có một nhà quan danh gia  vọng tộc triều Minh, vì chịu ơn chữa bệnh đã lập đền thờ ở Hồ Nam, là  đền thờ được quay về hướng Nam quy mô lớn hơn cả. Nguyễn Danh Nho là  Tiến sĩ người cùng làng Nghĩa Phú, năm 1690 đời Lê Huy Tông (1676 –  1705) đi sứ Trung Quốc đã đến đền thờ này đọc được trên tấm bia trước  của đền lời nói trăng trối lại: <em>“Ai về Nam cho hài cốt tôi về với”.</em> Nguyễn Danh Nho đã phỏng theo bia này khắc một bia khác và đem về thờ ở  đền Bia, đến nay vẫn còn có nhiều huyền thoại về tấm bia này.</p>
<p>Ở Việt Nam, Tuệ Tĩnh được thờ ở nhiều nơi, cổ nhất là ở đền An Lư,  Thủy Nguyên, Hải Phòng, có sắc phong thần năm 1572, thần tích do Đông  các Học sĩ Nguyễn Bính ở Viện cơ mật triều Lê soạn năm Hồng Phúc thư  nhất 1572.</p>
<p>Tại quê ông, làng Nghĩa Phú, Cẩm Giàng, Hải Dương có đền thờ ông bên  cạnh đình làng với hai câu đối ca ngợi sự nghiệp khoa bảng và y học của  ông là:</p>
<ul>
<li><em>Danh khôi nhị giáp tiêu Trần giám.<br />
Sứ mệnh thập toàn tỉnh Bắc y.</em></li>
</ul>
<ul>
<li><em>Đoạt giáp văn chương danh lưỡng quốc.<br />
Hoạt nhân đức trạch phổ thiên thu.</em></li>
</ul>
<p>Nguyễn Danh Nho đi sứ về năm 1690 đã đem đến đây một sập đá, hiện nay  vẫn còn để trước cửa đền.</p>
<p>Còn ba đền thờ nữa thờ Tuệ Tĩnh là đền Trung ở chân đê làng Văn Thai,  và chùa Giám, là ngôi chùa Tuệ Tĩnh đi tu từ nhỏ. Đáng kể nhất là đền  Bia (giữa Văn Thai và Nghĩa Phú) tương truyền Nguyễn Danh Nho sao chiếc  bia đá theo mẫu ở đền Hồ Nam đi thuyền về đến đó thì thuyền bị đắm. Nhân  dân lập đền thờ ngay chỗ thuyền bị đắm gọi là đền Bia. Hiện nay đền Bia  đã được trùng tu sửa sang to đẹp, uy nghi nhất trong những nơi đang thờ  Tuệ Tĩnh. Hàng năm cứ đến ngày 14, 15, 16 tháng 2 âm lịch, nhân dân  quanh vùng lại mở lễ hội kỷ niệm ngày mất của Thái y Thiền sư Tuệ Tĩnh.</p>
<p>Sự kiện ngày 22 tháng 7 năm 1992, một đoàn cán bộ gồm các nhà khoa  học, nhà nghiên cứu lịch sử: Đỗ Tất Lợi, Hà Văn Tấn, Tống Trung Tín, Vũ  Thế Long, Đoàn Đức Thành và Đinh Khắc Thuần đến chùa Giám đọc trên cây  hương đá ở cửa chùa, (người lập bia này là Như Ứng) nói về công đức của  nghiêm sư là: <em>“Hội chủ sa môn Chân An giác tính Tuệ Tịnh Thiền sư”</em>.  Các học giả này đã nhầm nhà sư Chân An là Tuệ Tĩnh. Sau cuộc hội thảo  toàn quốc về lịch sử Tuệ Tĩnh do Viện IAM tổ chức ngày 4 tháng 9 năm  2001 thì quan điểm trên đây bị nhiều học giả viết bài bác bỏ. Vậy chỉ có  một Tuệ Tĩnh sống ở thế kỷ XIV mà thôi. Tác phẩm của ông mãi đến năm  1717 mới được in là do lý do lịch sử.</p>
<p><strong>2. </strong><strong>Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác</strong></p>
<p>Với tác phẩm <em>Y tôn Tâm lĩnh</em>, có thể nói bộ sách của Lê Tiên  Sinh là bản tổng kết Trung y, vận dụng Trung y để chữa bệnh ở Việt Nam.  Đây là một chiếc cầu lớn nối y học cổ Trung Hoa và Y học Việt Nam.</p>
<p>Với bộ óc thông minh mẫn tiệp mà Lê Tiên Sinh đã phân tích cả phải  trái với các vị tiên thánh của Trung y như Vương Tiết Tề, Chu Đan Khê…</p>
<p>Khác với ông cử họ Trần, bạn của Lê Hữu Trác coi nghề thuốc là một  nhân thuật tầm thường, còn Lê Tiên Sinh coi đạo làm thầy thuốc cũng  giống như đạo trị nước của quan tể tướng, phải quán được đạo Tam tài,  điều nhiếp được âm dương.</p>
<p>Lê Tiên Sinh đã biết bệnh mang tính địa lý và thời đại trong câu nói:  <em>“Người ta khác với người phương Bắc, người bây giờ khác với người  thời cổ…”</em></p>
<p>Bộ sách <em>“Y tôn tâm lĩnh”</em> được viết từ cuối thời Lê đến thời  Tự Đức (1848 – 1883), Võ Xuân Hiên mới khắc bản gỗ ở chùa Đại Tráng, Từ  Sơn, Bắc Ninh gần 100 năm sau mới được in thành sách. Đến đời vua Khải  Định triều Nguyễn (1916 – 1925) đã sắc phong cho Lê Tiên Sinh là <em>“Việt  Nam Y Thánh”</em>.</p>
<p>Lê Hữu Trác (1720 – 1791) là người xã Lưu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng  Yên ngày nay, (tức thôn Văn, xã Lưu Xá, Huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương  trước đây). Ông xuất thân từ gia đình danh gia thế phiệt, nhiều người  đỗ đạt cao nhưng ông thì chưa có danh phận khoa bảng. Ông theo binh  nghiệp đến năm 30 tuổi thì về quê ngoại Hương Sơn, Hà Tĩnh tự tìm sách  nghiên cứu để làm nghề thuốc. Trên không có thầy giỏi, dưới không có bạn  hiền giúp đỡ, tự học, tự nghiên cứu để thành thầy thuốc nổi danh. Đó là  một sự kiện thứ nhất trong lịch sử y học Việt Nam.</p>
<p>Thứ hai, Lê Tiên Sinh đã biên dịch sách, thâu tóm Trung y, vận dụng  sáng tạo vào địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng Việt Nam và vận dụng tính thời  đại của bệnh tật để chữa bệnh một cách sáng tạo, điều mà các quan Thái y  triều Lê mũ cao, áo dài, có văn bằng, chức tước, xênh xang cờ biển,  lương cao bổng hậu lại không ai làm được.</p>
<p>Điều lạ thứ ba là bộ <em>“Y tôn tâm lĩnh”</em> được in khi mà ở các  nước xung quanh việt Nam như: Nhật Bản, Trung Quốc, Đông y đang bị loại  ra khỏi y khoa chính thống, Đông y bị phỉ báng và bôi nhọ.</p>
<p>Điều lạ thứ tư là vào những năm Khải Định làm vua (1916 – 1925), Nhật  Bản cấm Đông y vào tháng 2 năm 1895, Trung Hoa Dân quốc bắt đầu có động  tác loại Đông y khỏi y tế Trung Quốc (1912 – 1929) với chủ trương cải  cách táo bạo và quyết liệt của Dư Văn Tụ để loại bỏ Đông y. Các chuyển  động của các nước xung quanh, vua Khải Định đã không biết.</p>
<p>Những điều lạ trên dẫn tới bộ <em>Y tôn tâm lĩnh</em> trước tác muộn mằn nhất của y học phương Đông đã cùng tác giả nổi danh và chiếm  vòng nguyệt quế.</p>
<p>Trong quyển <em>“Các triều đại Việt Nam”</em> của Quỳnh Cư, Đỗ Đức  Hùng viết về vua Khải Định như sau: <em>“Đây là một ông vua bù nhìn mạt  hạng”</em>. Chắc ông vua này có nhiều điều xấu xa với dân với nước, tuy  vậy việc phong Thánh y cho Lê Tiên Sinh thì chắc là sáng suốt.</p>
<p>Hiện nay đền thờ Lê Hữu Trác được xây dựng ở quê ông Lưu Xá, Yên Mỹ,  Hưng Yên để nhân dân ngày ngày đến hương khói thờ phụng. Đền thờ lúc đầu  được xây dựng như một nhà lưu niệm nhỏ vào cuối thế kỷ XX. Đến đầu thế  kỷ XXI thì được xây dựng quy mô như đền đài hiện nay.</p>
<p>Điểm lại các tác phẩm tác giả đại diện riêng ở Trung Hoa và Việt Nam,  Đông y suốt gần 50 thế kỷ (chưa kể các nước có văn hóa lâu dời khác ở  phương Đông như Ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc…), đó đã là một  lâu đài kỳ vĩ, lung linh toàn châu ngọc. Trong đó thật nhiều kho báu có  thể khai thác.</p>
<p>Nhận thức của cả một quốc hội toàn những bộ đầu thông thái như ở Nhật  Bản đã ra quyết định cấm Đông y (1895). Nhận thức của nhiều học giả  quan chức cao cấp của một chính đảng như Uông Đại Nhiếp &#8211; Bộ trưởng Bộ  Giáo dục Trung Hoa dân quốc, cả một hội đồng y học trung ương quốc dân  đảng đã thông qua đề án của Dư Văn Tụ phế bỏ Đông y, nhằm <em>“loại bỏ  trở ngại trong sự nghiệp phát triển y học”</em>.</p>
<p>Những bài học đắt giá ấy là gương để mọi người soi chung khi động tới  sự an huy của lâu đài cổ kính này.</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://namydaophap.net/?feed=rss2&amp;p=20</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
